Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ

Tên tác giả: admin

Bồi dưỡng theo tiêu chuấn chức danh viên chức ngành KH&CN, Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ tổ chức lễ bế giảng Lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghiên cứu khoa học – Khóa 2 và Lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh công nghệ – Khóa 4 tại Hà Nội

Chiều ngày 10/112025, tại Hà Nội, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ đã tổ chức Lễ bế giảng Lớp Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghiên cứu khoa học – Khóa 2 và Lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh công nghệ – Khóa 4. Tham dự lễ bế giảng có Ông Triệu Minh Long – Phó Giám đốc Học viện, đại diện các đơn vị chức năng của Học viện cùng toàn thể học viên của hai lớp bồi dưỡng. Lớp Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghiên cứu khoa học – Khóa 2 được tổ chức trong 6 tuần (từ ngày 20/5/2025 đến ngày 14/7/2025) bằng hình thức học từ xa, với 239 học viên là những người đang giữ chức danh nghiên cứu viên hoặc tương đương, công tác tại các đơn vị sự nghiệp thuộc các bộ, ngành địa phương khu vực phía Bắc gồm: Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, UBND TP Hà Nội, Viện hàn lâm khoa học Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Sở KH&CN TP Hải phòng, các đơn vị sự nghiệp thuộc các UBND các tỉnh thành phố,… Đại biểu và học viên tham dự bế giảng Lớp Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh chức danh công nghệ – Khóa 4 được triển khai trong 6 tuần (từ ngày 28/5/2025 đến ngày 11/7/2025) bằng hình thức học từ xa, với 184 học viên giữ chức kỹ sư hoặc tương đương, thuộc các đơn vị sự nghiệp tại các bộ, ngành địa phương như: Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Bộ Xây Dựng, Bộ VH,TT&DL, Đài truyền hình Việt Nam, Sở KH&CN Điện Biên, Sở LĐ-TB&XH Nam Định, Sở NN&PTNT Hưng Yê, Sở TN&MT TP. Hà Nội, Sở Y tế Lào Cai, Sở Y tế Cao Bằng, Sở Y tế Điện Biên, Sở Y tế Hải Dương, Sở Y tế Quảng Ninh, Sở Y tế Thái Nguyên, Sở Y tế Thanh Hóa, Sở Y tế Hải Phòng,… Các học viên tham dự lớp học nhận chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh công nghệ Kết thúc khoá học, học viên được trang bị và cập nhật kiến thức về chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Đảng và Nhà nước, cũng như xu hướng phát triển, các tiến bộ khoa học và công nghệ mới, công nghệ nổi bật trong nước và quốc tế. Đồng thời, học viên được rèn luyện kỹ năng tổng hợp, phân tích thông tin, phương pháp thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhiệm vụ nghiên cứu triển khai, ứng dụng, phát triển và quản lý công nghệ, làm việc nhóm,… Phát biểu tại buổi lễ, ông Triệu Minh Long – Phó Giám đốc Học viện ghi nhận và đánh giá cao tinh thần học tập nghiêm túc của các học viên, sự nỗ lực của Ban tổ chức và giảng viên trong việc bảo đảm chất lượng và tiến độ của chương trình bồi dưỡng. Ông nhấn mạnh, kết quả của khóa học là minh chứng cho hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ theo tiêu chuẩn chức danh, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn và phát triển nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao. Thầy Triệu Minh Long, Phó Giám đốc Học viện phát biểu tại buổi lễ Kết thúc buổi lễ, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ đã trao chứng chỉ hoàn thành khoá học cho 239 học viên Lớp Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghiên cứu khoa học – Khóa 2 và 184 học viên Lớp Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh chức danh công nghệ – Khóa 4.

Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo nền tảng mới cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển

Phát biểu tại Hội nghị tập huấn công tác quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức sáng 15/10/2025, Thứ trưởng Lê Xuân Định nhấn mạnh, đây là thời điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi 3 lĩnh vực trụ cột của Bộ gồm tiêu chuẩn đo lường chất lượng, an toàn bức xạ và hạt nhân, thông tin – thống kê và đánh giá KH&CN đang được thiết lập lại hành lang pháp lý một cách căn bản, theo hướng tiếp cận mới, hiện đại và hiệu quả hơn. Thứ trưởng Lê Xuân Định cho biết, tại Kỳ họp thứ 9 vừa qua, Quốc hội khóa XV đã thông qua hai dự án luật quan trọng là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Đây là bước ngoặt lớn, tạo nền tảng pháp lý mới cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, lĩnh vực có mức độ tương tác trực tiếp và sâu rộng nhất với người dân và doanh nghiệp. Hiện Bộ KH&CN đang khẩn trương xây dựng các nghị định và văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, có tính khả thi cao khi đưa luật vào cuộc sống. Thứ trưởng Lê Xuân Định phát biểu tại Hội nghị. Thứ trưởng Lê Xuân Định cũng cho biết, lĩnh vực an toàn bức xạ và hạt nhân cũng đang bước vào giai đoạn hoàn thiện khung pháp lý, chuẩn bị cho sự phát triển lâu dài. Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua là dấu mốc quan trọng, góp phần củng cố hành lang pháp lý cho công tác quản lý, giám sát an toàn và phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử tại Việt Nam. Đây được xem là bước chuẩn bị cần thiết cho tiến trình xây dựng nhà máy điện hạt nhân trong tương lai, bảo đảm việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực này được thực hiện chặt chẽ, theo đúng chuẩn mực quốc tế. Ở lĩnh vực thông tin – thống kê và đánh giá khoa học công nghệ, Thứ trưởng Lê Xuân Định cho biết, cách tiếp cận trong thời gian tới sẽ được đổi mới mạnh mẽ, chuyển từ quản lý theo đầu vào sang quản lý theo đầu ra, hướng tới quản trị bằng kết quả và hiệu quả thực chất. Muốn làm được điều đó, các địa phương cần chú trọng hoạt động đánh giá, coi đây là công cụ then chốt trong phân bổ nguồn lực cho KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Toàn cảnh Hội nghị. Thứ trưởng đề nghị các Sở KH&CN xây dựng bộ phận đánh giá có năng lực chuyên môn để tham mưu cho lãnh đạo Sở trong việc phân bổ, sử dụng hiệu quả ngân sách, đồng thời làm căn cứ đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị và địa phương. Thứ trưởng khẳng định, cả 3 lĩnh vực nói trên đều giữ vai trò đặc biệt quan trọng và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: Thông tin – thống kê là nền tảng quản lý, Tiêu chuẩn đo lường chất lượng là cầu nối trực tiếp giữa KH&CN với doanh nghiệp và người dân, An toàn bức xạ và hạt nhân là lĩnh vực chuyên sâu, mang tính đặc thù cao. Đáng chú ý, trong tiến trình phân cấp, phân quyền hiện nay, lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng là một trong những lĩnh vực được phân cấp mạnh mẽ nhất, thể hiện rõ trách nhiệm và vai trò của các địa phương trong việc triển khai chính sách KH&CN gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Thứ trưởng chỉ rõ, sau khi Nghị quyết 57-NQ/TW được ban hành, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các cấp ủy và chính quyền địa phương. Do đó, công tác chỉ đạo, điều hành trong lĩnh vực này phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, mang tính hệ thống, không chỉ trong phạm vi ngành dọc mà còn gắn kết chặt chẽ với các lĩnh vực khác, nhằm tạo chuyển biến thực chất trong đời sống kinh tế – xã hội. Thứ trưởng cũng đề nghị các địa phương tăng cường phối hợp, thiết lập kênh liên lạc thường xuyên với Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân và Cục Thông tin, thống kê. Sự phối hợp chặt chẽ, trao đổi kịp thời sẽ giúp tháo gỡ khó khăn, thống nhất cách hiểu và triển khai các nhiệm vụ hiệu quả hơn trong thực tiễn. Tại Hội nghị, các đại biểu đã trình bày các tham luận về: Quản lý nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất lượng; Quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử bảo đảm an toàn bức xạ và hạt nhân; Một số vấn đề mới trong công tác quản lý nhà nước về thông tin, thống kê, đánh giá hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hội nghị là dịp để các đại biểu chia sẻ, trao đổi, thảo luận, góp phần nâng cao năng lực quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở cả trung ương và địa phương, đưa chính sách vào cuộc sống một cách hiệu quả. Trung tâm Truyền thông KH&CN

Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, Tin tức, sự kiện, Tư vấn, dịch vụ

Ngành KH&CN giữ vai trò trung tâm trong tăng trưởng mới: Bứt phá với chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo ở địa phương

“Đây là giai đoạn đặc biệt, khi vai trò của ngành khoa học và công nghệ (KH&CN) được đặt ở vị trí trung tâm trong thúc đẩy tăng trưởng mới” – Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Hoàng Phương khẳng định tại Hội nghị tập huấn quản lý nhà nước về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN,ĐMST&CĐS) dành cho lãnh đạo Sở KH&CN các tỉnh, thành phố diễn ra vào sáng 16/10 tại Hà Nội. Thứ trưởng cũng đề nghị các địa phương tiếp tục đổi mới tư duy quản lý, coi KHCN,ĐMST&CĐS là động lực then chốt để phát triển kinh tế – xã hội. Toàn cảnh Hội nghị. Đặt KHCN,ĐMST&CĐS ở vị trí ưu tiên hàng đầu Phát biểu khai mạc tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Hoàng Phương nhấn mạnh, trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương, các hoạt động về KHCN,ĐMST&CĐS phải được xem là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. “Chưa bao giờ công tác KHCN,ĐMST&CĐS lại được quan tâm sâu sắc, toàn diện như hiện nay. Đây là cơ hội lớn để các địa phương bứt phá, nhưng cũng đặt ra những yêu cầu mới về tổ chức, nguồn lực và năng lực thực thi. Tôi kỳ vọng các đồng chí lãnh đạo Sở KH&CN ở địa phương thể hiện rõ vai trò tiên phong của ngành trong bối cảnh phát triển mới”, Thứ trưởng nhấn mạnh. Theo Thứ trưởng, từ sau khi hai Bộ hợp nhất, Bộ KH&CN đã trình Quốc hội 5 dự án luật lớn và trong vài tháng tới sẽ tiếp tục trình thêm 5 dự án luật mới – một khối lượng công việc mang tính lịch sử của ngành trong một năm. Đặc biệt, Luật Trí tuệ nhân tạo (AI) – một trong những đạo luật tiên phong mà mới chỉ vài quốc gia trên thế giới ban hành sẽ sớm được trình Quốc hội. “Đây là thách thức lớn, nhưng cũng là dịp để ngành KH&CN thể hiện rõ vai trò dẫn dắt trong bối cảnh hội nhập số toàn cầu”, Thứ trưởng nhấn mạnh. Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương đề nghị lãnh đạo các Sở KH&CN đặc biệt quan tâm ba nhóm nhiệm vụ lớn: Thứ nhất, cần nâng cao hiệu quả đầu tư và quản lý vốn KHCN,ĐMST&CĐS. Trong bối cảnh luật pháp và cơ chế tài chính có nhiều thay đổi, việc đăng ký vốn đầu tư cho KHCN,ĐMST&CĐS đóng vai trò then chốt. Hiện nay, toàn bộ chi thường xuyên và chi đầu tư liên quan đến lĩnh vực KH&CN của các bộ, ngành, địa phương đều phải được thẩm định bởi Bộ KH&CN trước khi trình Chính phủ. Năm 2025, Trung ương đã đăng ký nguồn vốn 42 nghìn tỷ đồng cho các hoạt động KHCN,ĐMST&CĐS. Đây là nguồn lực rất quan trọng, đòi hỏi các địa phương phải nâng cao trách nhiệm trong quản lý, giám sát, đảm bảo hiệu quả đầu tư, tiến độ giải ngân và tính liên thông của các nền tảng số. Thứ hai, hình thành và phát triển các khu công nghệ số tập trung, gắn với nhu cầu thực tiễn của địa phương. Thứ trưởng cho biết, chưa bao giờ số lượng địa phương đăng ký khu công nghệ số tăng mạnh như hiện nay. Tuy nhiên, mới chỉ Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đáp ứng được yêu cầu theo Nghị quyết 57. Theo đó, các địa phương cần xây dựng các nền tảng số triển khai nhanh, hiệu quả, gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và người dân. Thứ ba, đẩy mạnh triển khai hệ thống dữ liệu và báo cáo trực tuyến dùng chung, hướng tới quản trị số thống nhất toàn ngành. Hiện nay, Bộ KH&CN đang xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung, cung cấp tài khoản truy cập cho các Sở KH&CN địa phương để kết nối, chia sẻ thông tin và triển khai thống nhất các thủ tục hành chính, báo cáo trực tuyến toàn ngành. “Các lãnh đạo Sở cần chỉ đạo quyết liệt để triển khai hiệu quả các nền tảng này, bảo đảm đồng bộ từ Trung ương tới địa phương”, Thứ trưởng đề nghị. Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Hoàng Phương phát biểu khai mạc tại Hội nghị. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp công nghệ số và chuyển đổi số toàn ngành KH&CN Báo cáo về “Quản lý nhà nước về công nghiệp công nghệ số” (CNCNS) tại Hội nghị, ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin cho biết, ngành công nghiệp công nghệ số Việt Nam đang tăng trưởng ấn tượng, thể hiện rõ vai trò động lực trong nền kinh tế số quốc gia. Theo báo cáo, doanh thu tháng 9/2025 đạt 482.174 tỷ đồng, tăng 47,9% so với cùng kỳ năm 2024; lũy kế đến tháng 9/2025 đạt 3.749 nghìn tỷ đồng, tăng 29,6%, hoàn thành 88% kế hoạch năm. Kim ngạch xuất khẩu phần cứng, điện tử tháng 9 đạt 16,8 tỷ USD, tăng 44%; lũy kế 9 tháng đạt 129,3 tỷ USD, tăng 30%, tương đương 81% kế hoạch năm 2025. Hiện, toàn ngành có gần 78.000 doanh nghiệp công nghệ số, sử dụng khoảng 1,9 triệu lao động. Một dấu mốc nổi bật là Luật CNCNS – đạo luật mới thay thế hành lang pháp lý cũ về công nghiệp công nghệ thông tin, đánh dấu bước phát triển mới, mở rộng sang lĩnh vực bán dẫn, AI và tài sản số. Việt Nam là quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành luật riêng cho lĩnh vực này, thiết lập khung pháp lý minh bạch, hiện đại, bảo đảm an toàn, an ninh mạng và quyền lợi người dùng. Cơ chế ưu đãi vượt trội trong Luật CNCNS được xem là một điểm

Hợp tác quốc tế

Tạp chí KH&CN Việt Nam phải có ước vọng lớn hơn, hội nhập giới tinh hoa học thuật toàn cầu

Lần đầu tiên sau khi thành lập, Ban Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ đã có buổi làm việc với tập thể viên chức, người lao động Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Thực hiện chương trình công tác năm 2025, chiều ngày 18/9 tại trụ sở Tạp chí Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Việt Nam, ông Phạm Đình Nguyên, Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN đã có buổi làm việc với tập thể viên chức, người lao động của Tạp chí KH&CN Việt Nam. Cùng dự có các Phó Giám đốc Học viện: ông Trần Văn Nghĩa, ông Vũ Văn Tích, ông Trần Minh Tân, ông Triệu Minh Long, bà Nguyễn Thị Hương Giang. Ông Phạm Đình Nguyên, Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN, phát biểu chỉ đạo. Tại buổi làm việc, ông Phạm Đình Nguyên, Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN, phát biểu chỉ đạo buổi làm việc, nêu rõ phương hướng phát triển của Học viện trong thời gian tới. Ông Nguyên cũng chỉ ra những khó khăn, thách thức đòi hỏi các đơn vị trong Học viện phải cùng nhau đồng lòng, quyết tâm vượt qua. Bà Nguyễn Thị Hương Giang, Phó Giám đốc Học viện, Tổng Biên tập Tạp chí KH&CN Việt Nam. Thay mặt Ban lãnh đạo Tạp chí, bà Nguyễn Thị Hương Giang, Phó Giám đốc Học viện, Tổng Biên tập Tạp chí KH&CN Việt Nam điểm lại lịch sử phát triển của 2 Tạp chí là: Tạp chí KH&CN Việt Nam và Tạp chí Thông tin và Truyền thông. Sau khi hai Tạp chí hợp nhất, ban lãnh đạo Tạp chí KH&CN Việt Nam đã xây dựng lộ trình phát triển mới cho từng ấn phẩm, từ các bản in (Tạp chí khoa học, Chuyên san) tới bản điện tử. Tuy nhiên, theo bà Giang, Tạp chí hiện đang gặp một số khó khăn cả về vật chất (thiết bị cũ, lạc hậu) và con người (thiếu nhân lực) làm chậm tiến trình chuyển đổi số, ảnh hưởng đến công tác chuyên môn của đơn vị. Ngoài ra, một số quy trình, quy định đối với các đơn vị trực thuộc Học viện như Tạp chí chưa ổn định tạo ra vướng mắc trong triển khai công việc hằng ngày của Tạp chí, nhất là những nhiệm vụ mang tính đặc thù tại một cơ quan báo chí. Các Phó Giám đốc Học viện giải đáp về cơ chế chính sách và góp ý vào chiến lược phát triển Tạp chí. Tại buổi làm việc, các Phó Giám đốc Học viện đã giải đáp, tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, chính sách mà Tạp chí đang gặp phải. Đồng thời, ban lãnh đạo Học viện cũng góp ý, đưa ra một số gợi ý giúp Tạp chí tăng tốc phát triển trong thời gian tới. Cán bộ công nhân viên Tạp chí bày tỏ tâm tư, nguyện vọng với Ban Giám đốc Học viện. Ban Giám đốc Học viện lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của viên chức, người lao động của Tạp chí và đã có câu trả lời, giải đáp cụ thể cho những vấn đề có thể giải quyết ngay. Về việc chuyển Tạp chí KH&CN Việt Nam thành đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ như chỉ đạo của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng trong kết luận giao ban QLNN của Bộ KH&CN (ngày 7/7/2025), Ban Giám đốc Học viện cơ bản đồng ý nhưng lưu ý thêm về lộ trình, quy trình, thời điểm… Ban Giám đốc nhấn mạnh, sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho Tạp chí KH&CN Việt Nam phát triển. Giám đốc Học viện Phạm Đình Nguyên kỳ vọng Tạp chí phải nhanh hơn nữa, ước vọng lớn hơn nữa trong việc tạo tiếng vang trong giới học thuật quốc tế. Kết luận Hội nghị, Giám đốc Học viện Phạm Đình Nguyên khẳng định sẽ thực hiện phân cấp, phân quyền triệt để, nhằm giúp Tạp chí chủ động hơn cả trong hoạt động điều hành và công tác chuyên môn. Giám đốc cũng đặt mục tiêu, Tạp chí phải nhanh hơn nữa trong các hoạt động hội nhập quốc tế, nâng cao chất lượng và tính học thuật trong các ấn phẩm khoa học của Tạp chí, tạo tiếng vang trong cộng đồng học thuật khu vực và quốc tế. Ban Lãnh đạo Học viện chụp ảnh lưu niệm cùng tập thể viên chức, người lao động Tạp chí KH&CN Việt Nam.

Hợp tác quốc tế

Ban hành Khung chỉ số đánh giá tiềm lực, trình độ KHCN và đổi mới sáng tạo

(Chinhphu.vn) – Bộ KH&CN vừa Ban hành Khung chỉ số phục vụ theo dõi, đánh giá tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Đây là công cụ quan trọng phục vụ việc so sánh giữa Việt Nam với các nước có thu nhập trung bình cao theo yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị. 19/09/2025  20:09 Bộ KH&CN đã ban hành Khung chỉ số phục vụ theo dõi, đánh giá tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia – Ảnh minh họa Khung chỉ số được xây dựng trên cơ sở lựa chọn các chỉ số trong Bộ chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index – GII) do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố hằng năm; các lĩnh vực KH&CN do tổ chức SCImago công bố hằng năm, trong đó có sự tham gia của Việt Nam và các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia có thu nhập trung bình cao. Các chỉ số được lựa chọn đảm bảo được sự tương đồng, có khái niệm nội hàm rõ ràng, có phương pháp tính, nguồn dữ liệu chính thống, được tổ chức quốc tế có uy tín công bố. Khung chỉ số được xây dựng nhằm hình thành bộ công cụ phục vụ theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu “Đến năm 2030, tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao” tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Khung chỉ số được cấu trúc thành hai phần, đó là: Khung đánh giá tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Khung đánh giá trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong đó, Khung đánh giá tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được lựa chọn từ bộ chỉ số GII với 35/78 chỉ số của GII, trong đó có 19 chỉ số đầu vào, 16 chỉ số đầu ra. Ý nghĩa, nội hàm, phương pháp tính, nguồn dữ liệu và kết quả của các chỉ số này được lấy từ báo cáo GII do WIPO công bố hằng năm. Kết quả xếp hạng sẽ được sử dụng để phân tích, đánh giá tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam, so sánh với các nước thu nhập trung bình cao. Các chỉ số phản ánh từ nguồn nhân lực KH&CN, đầu tư cho nghiên cứu – phát triển (R&D), năng lực của trường đại học, đến các hoạt động khởi nghiệp sáng tạo và đầu tư mạo hiểm. Ví dụ như các chỉ số: Sinh viên tốt nghiệp ngành khoa học và kỹ thuật; Nhà nghiên cứu; Tổng chi cho nghiên cứu và phát triển (GERD) % GDP; Chi nghiên cứu và phát triển trung bình của 3 công ty hàng đầu có đầu tư ra nước ngoài; Điểm trung bình của 3 trường đại học hàng đầu trong xếp hạng QS; Tài chính cho khởi nghiệp sáng tạo và mở rộng quy mô; Số thương vụ đầu tư mạo hiểm các nhà đầu tư đã thực hiện; Số người (doanh nghiệp) được nhận vốn đầu tư mạo hiểm; Phần chi nghiên cứu và phát triển do doanh nghiệp thực hiện (% GDP)… Khung đánh giá trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo lựa chọn 16/27 lĩnh vực cụ thể (cấp 2) được Tổ chức SCImago xếp hạng hằng năm. Đây là những lĩnh vực quan trọng mà Việt Nam có thế mạnh và đang ưu tiên phát triển. Trên cơ sở đó, sẽ tiến hành đánh giá, so sánh giữa Việt Nam và các nước, đặc biệt là các nước thu nhập trung bình cao. Các lĩnh vực Việt Nam lựa chọn để đánh giá trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gồm: Khoa học tư nhiên, gồm 5 lĩnh vực: Toán học; Vật lý và thiên văn học; Hóa học; Khoa học môi trường; Khoa học trái đất và hành tinh) Khoa học kỹ thuật và công nghệ, gồm 4 lĩnh vực: Khoa học máy tính; Năng lượng; Kỹ thuật; Khoa học vật liệu). Khoa học y dược, gồm 03 lĩnh vực: Y học; Khoa học thần kinh; Dược lý học, độc chất học và dược học). Khoa học nông nghiệp, gồm 01 lĩnh vực: Khoa học nông nghiệp và sinh học. Khoa học xã hội, gồm 02 lĩnh vực: Khoa học xã hội; Tâm lý học. Khoa học nhân văn, gồm 01 lĩnh vực: Nghệ thuật và nhân văn. Việc đánh giá trình độ KH&CN theo SCImago dựa trên 3 trụ cột. Đó là: Hiệu suất nghiên cứu (50%): chất lượng và hiệu quả công bố khoa học, số trích dẫn, H-index, tỷ lệ hợp tác quốc tế, chất lượng tạp chí… Đổi mới sáng tạo (30%): khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành bằng sáng chế, công nghệ, sản phẩm ứng dụng. Tác động xã hội (20%): mức độ phổ biến tri thức khoa học tới cộng đồng, hiện diện trực tuyến, sử dụng thông tin KH&CN, vai trò của nữ giới trong nghiên cứu. SCImago hiện tổng hợp dữ liệu từ hơn 34.100 tạp chí khoa học, 5.000 nhà xuất bản quốc tế và 239 quốc gia, được coi là nguồn tham chiếu quan trọng cho hoạch định chính sách KH&CN toàn cầu. Theo PGS.TS Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Bộ KH&CN, việc ban hành Khung chỉ số là một trong những nhiệm vụ trong Nghị

Tin tức, sự kiện

Đại hội Đại biểu Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 thành công tốt đẹp

Ngày 16/8/2025, tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Đại hội Đại biểu Đảng bộ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030. Đây là sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới của ngành khoa học và công nghệ. Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đến dự và chỉ đạo Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030. Cùng đự Đại hội có Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng và lãnh đạo một số Bộ, ngành Trung ương… … cùng các đồng chí lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ qua các thời kỳ. Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ trình bày diễn văn khai mạc Đại hội Đoàn Chủ tịch điều hành Đại hội. Các đại biểu biểu quyết thông qua các văn kiện tại Đại hội. Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phát biểu chỉ đạo Đại hội. Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng phát biểu tiếp thu ý kiến chỉ đạo của đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tưởng Chính phủ Phạm Minh Chính. Đại hội nghe công bố Quyết định của Đảng ủy Chính phủ chỉ định và ra mắt Ban chấp hành Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ gồm 30 đồng chí; Ban thường vụ gồm 8 đồng chí; Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Bí thư Đảng uỷ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ được chỉ định là Bí thư Đảng ủy Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2025 – 2030. Tin: Trung tâm Truyền thông KH&CN Nguồn: https://mst.gov.vn

Tin tức, sự kiện

Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ phải trở thành trụ cột lý luận và kiến thức của Bộ KH&CN

Chiều ngày 14/7/2025 tại Hà Nội, Đảng bộ Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ đã tổ chức Đại hội lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030. Đồng chí Bùi Thế Duy, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), dự và chỉ đạo Đại hội. Đại hội có sự tham dự của hơn 140 đảng viên đang sinh hoạt tại các chi bộ trực thuộc. Thứ trưởng Bùi Thế Duy trao Quyết định chỉ định tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ Học viện Chiến lược KH&CN. Trình bày Báo cáo chính trị tại Đại hội, đồng chí Phạm Đình Nguyên – Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện cho biết Đảng bộ Học viện được thành lập ngày 01/7/2025 theo Quyết định số 133-QĐ/ĐU của Đảng ủy Bộ KH&CN, trên cơ sở hợp nhất 7 tổ chức: Đảng bộ Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo; Chi bộ Viện Chiến lược Thông tin và truyền thông; Chi bộ Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Thông tin và truyền thông; Chi bộ Tạp chí KH&CN Việt Nam; Chi bộ Tạp chí Thông tin và Truyền thông; và Chi bộ Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hội nhập KH&CN quốc tế. Đảng bộ Học viện Chiến lược KH&CN hiện có 147 Đảng viên và 08 Chi bộ trực thuộc, trong đó, có 142 đảng viên chính thức và 05 đảng viên dự bị. Thứ trưởng Bùi Thế Duy phát biểu chỉ đạo tại Đại hội Một số kết quả nổi bật Trong nhiệm kỳ vừa qua, các đơn vị tiền thân của Học viện đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận trên các mặt: nghiên cứu khoa học, đào tạo – bồi dưỡng, xây dựng chính sách và hợp tác quốc tế. Đồng chí Phạm Đình Nguyên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN trình bày báo cáo chính trị Về nghiên cứu khoa học, nhiều chương trình KH&CN cấp Bộ đã được xây dựng, triển khai, góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng cho việc hoạch định chính sách quốc gia. Về đào tạo, Học viện tổ chức đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ theo quy định. Riêng giai đoạn 2018–2020, đã có hơn 12.000 lượt học viên tham gia các khóa bồi dưỡng, trong đó khoảng 11.000 học viên được cấp chứng chỉ. Về tham gia xây dựng, triển khai và đánh giá chiến lược, chính sách KH,CN&ĐMST, dù mới được thành lập, Học viện đã quy tụ đội ngũ chuyên gia, cán bộ nghiên cứu có năng lực để thực hiện nhiệm vụ tham mưu, xây dựng chiến lược, cơ chế, chính sách và pháp luật về KH,CN&ĐMST. Bên cạnh đó, thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, Học viện đã tổng hợp, cung cấp nhiều luận cứ khoa học có giá trị phục vụ lãnh đạo Bộ và các hoạt động liên quan của Bộ KH&CN trong thời gian qua. Toàn cảnh Đại hội Về công tác xuất bản giáo trình, tài liệu giảng dạy, cũng như hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH,CN&ĐMST đang được triển khai đồng bộ, đúng quy định pháp luật. Trong nhiệm kỳ 2025–2030, Đảng bộ Học viện xác định phương châm hành động là: Làm gương, Kỷ cương, Trọng tâm, Chuyên nghiệp, Bứt phá vì một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Mục tiêu là xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; gắn kết công tác đảng với chuyên môn; đưa Học viện trở thành trung tâm hàng đầu Đông Nam Á về chiến lược KH,CN&ĐMST, có ảnh hưởng thực chất đến chính sách quốc gia, đạt chuẩn quốc tế về dữ liệu, năng lực phân tích và đào tạo chính sách KH,CN&ĐMST. Cần đột phá, cách mạng trong tư duy Phát biểu chỉ đạo Đại hội, Thứ trưởng Bùi Thế Duy nhấn mạnh việc hợp nhất 7 đơn vị là bước tái cấu trúc toàn diện nhằm xây dựng Học viện thành trụ cột về lý luận và kiến thức của Bộ KH&CN. Theo Thứ trưởng, các đơn vị hợp nhất đều có truyền thống, bề dày lịch sử như Viện Chiến lược KH&CN, Tạp chí KH&CN và Tạp chí Thông tin và Truyền thông với hơn 60 năm hình thành và phát triển, do đó cần kế thừa tinh hoa, đồng thời đổi mới toàn diện về nội dung, phương pháp đào tạo, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo. Thứ trưởng yêu cầu Học viện mạnh dạn từ bỏ mô hình giảng dạy cũ, tăng cường gắn kết giữa nghiên cứu và đào tạo; tạo điều kiện cho nghiên cứu sinh tham gia giảng dạy, chia sẻ kết quả nghiên cứu. Công tác tổ chức cán bộ cần bám sát nguyên tắc sắp xếp theo năng lực, nguyện vọng, tạo động lực đổi mới. Nhấn mạnh vai trò của Luật KH,CN&ĐMST vừa được Quốc hội thông qua, Thứ trưởng cho rằng đây là hành lang pháp lý thuận lợi để Học viện tự đề xuất các chương trình, nhiệm vụ nghiên cứu; cần mạnh dạn giao đề tài nhỏ cho cán bộ trẻ, tạo không gian sáng tạo, thúc đẩy tự chủ nghiên cứu, từng bước hình thành môi trường học thuật năng động. Thứ trưởng Bùi Thế Duy kỳ vọng, Đại hội lần này sẽ mở ra một giai đoạn phát triển mới cho Học viện Chiến lược KH&CN – một trung tâm đào tạo, nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực KH,CN,ĐMST và chuyển đổi số./. Tin: Trung tâm Truyền thông KH&CN

Tin tức, sự kiện

Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030

Chiến lược phát triển KH,CN&ĐMST đến năm 2030 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ riêng với ngành khoa học và công nghệ (KH&CN) mà còn với toàn thể hệ thống chính trị bởi vai trò của KH,CN&ĐMST trong 10 năm tới là đột phá chiến lược, có ý nghĩa quyết định tạo bứt phá nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bài viết này làm rõ các nội dung chính và việc triển khai Chiến lược phát triển KH,CN&ĐMST đến năm 2030. Chiến lược xác định phát triển KHCN&ĐMST là quốc sách hàng đầu, đóng vai trò đột phá chiến lược trong giai đoạn mới; là động lực chính để thúc đẩy tăng trưởng, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả; là nhân tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, các ngành, lĩnh vực KT-XH, địa phương và doanh nghiệp; là nền tảng để thực hiện chuyển đổi số quốc gia; góp phần quan trọng nâng cao đời sống nhân dân, phát triển bền vững, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Chiến lược đề ra mục tiêu đến năm 2030, KHCN&ĐMST được phát triển vững chắc, thực sự trở thành động lực tăng trưởng, góp phần quyết định đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; góp phần phát triển toàn diện văn hóa, xã hội, con người, bảo đảm quốc phòng – an ninh, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam; tiềm lực, trình độ KHCN&ĐMST đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao; trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình của thế giới; một số lĩnh vực KH&CN đạt trình độ quốc tế. Định hướng của Chiến lược xác định ưu tiên trong phát triển KHCN&ĐMST; là cầu nối giữa mục tiêu với nhiệm vụ, giải pháp; là cơ sở để phân bổ nguồn lực hướng tới thực hiện mục tiêu phát triển KHCN&ĐMST. Chiến lược tập trung vào các định hướng phát triển nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ mà Việt Nam có thế mạnh, tiềm năng và còn dư địa lớn. Đồng thời, Chiến lược xác định định hướng nhiệm vụ trọng tâm phát triển KHCN&ĐMST, trong đó đặc biệt nhấn mạnh định hướng KHCN&ĐMST phục vụ phát triển KT-XH bền vững, bao trùm, thúc đẩy hoạt động KHCN&ĐMST trong doanh nghiệp, đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nước về KHCN&ĐMST; bổ sung định hướng hoạt động ĐMST, gồm cả định hướng ĐMST trong các ngành và các vùng KT-XH. Hoạt động triển khai Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 Bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp được xác định trong Chiến lược, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành quyết định phê duyệt Phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ KHCN&ĐMST đến năm 2025 (Quyết định số 2667/QĐ-BKHCN ngày 28/12/2022 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ). Theo đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đã đặt ra 9 nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện các mục tiêu chiến lược, bao gồm các nội dung chủ yếu sau: 1. Hoàn thiện hành lang pháp lý và tập trung nguồn lực để thực hiện nội dung chiến lược về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2. Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện vai trò trung tâm trong điều phối, liên kết với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ trực tiếp phát triển kinh tế – xã hội 3. Hoàn thiện hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm, các tổ chức khoa học và công nghệ là các chủ thể nghiên cứu KHCN&ĐMST 4. Tập trung xây dựng nâng cao năng lực công nghệ cốt lõi thúc đẩy năng suất chất lượng, tận dụng cuộc Cách mạnh công nghiệp lần thứ tư 5. Hoàn thiện các quy định pháp luật quản lý nhiệm vụ KH&CN để thúc đẩy phát triển KHCN&ĐMST 6. Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN 7. Sở hữu trí tuệ và Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng 8. Nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát triển công nghệ góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế về KHCN&ĐMST 9. Chuyển đổi số và hiện đại hoá hoạt động quản lý nhà nước, tăng cường truyền thông về KHCN&ĐMST Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Doanh nghiệp muốn cạnh tranh được phải đổi mới công nghệ, doanh nghiệp muốn dẫn đầu phải nghiên cứu phát triển

Cổng TTĐT Bộ KH&CN trân trọng giới thiệu bài viết của Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng về vấn đề đổi mới công nghệ và nghiên cứu phát triển đối với các doanh nghiệp. Tăng trưởng bằng các động lực truyền thống đã dần tới hạn. Chúng ta có thể tăng trưởng tới 7% bằng các động lực truyền thống. Nhưng tăng thêm từ 7% tới 10% thì phải tìm các động lực tăng trưởng mới. 3% tăng trưởng mới này có thể đến từ khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS). Nông nghiệp đã giúp Việt Nam thoát nghèo. FDI, gia công, công nghiệp lắp ráp đã giúp Việt Nam thành nước thu nhập trung bình cao. Nhưng để trở thành nước phát triển có thu nhập cao, muốn \”hóa rồng\”, \”hóa hổ\”, thì phải dựa vào KHCN, ĐMST và CĐS. Bộ 3 KHCN, ĐMST và CĐS là động lực chính để phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cũng là 3 động lực chính để kinh tế tư nhân có thể tiếp nhận vai trò thành lực lượng quan trọng nhất, tiên phong trong phát triển đất nước. Luật KHCN và ĐMST có một đổi mới quan trọng là:KHCN phải hướng tới ĐMST, để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Lần đầu tiên, ĐMST được đưa vào luật và được đặt ngang hàng với KHCN, thể hiện sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển của Việt Nam. Nhấn mạnh ĐMST là việc chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, thúc đẩy ứng dụng KHCN vào thực tiễn, góp phần gia tăng giá trị và hiệu quả kinh tế – xã hội. Nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ là của các nhà khoa học, kỹ sư, nhưng ĐMST là của mọi doanh nghiệp, mọi hộ kinh doanh, mọi tổ chức, mọi người dân, giống như một cuộc cách mạng toàn dân của một quốc gia ĐMST và khởi nghiệp. Doanh nghiệp muốn cạnh tranh được thì phải đổi mới công nghệ. Doanh nghiệp muốn dẫn đầu thì phải nghiên cứu phát triển. Luật KHCN và ĐMST sẽ được Quốc hội thông qua vào tháng 6/2025 có nhiều đổi mới quan trọng. 1% ngân sách nhà nước (NSNN) hàng năm, tức là khoảng 25.000 tỷ đồng sẽ được chi hỗ trợ cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chủ yếu thông qua cơ chế hỗ trợ lãi suất vay, khoảng 50%, tức là nếu lãi suất vay 6% thì được hỗ trợ 3%. Nhà nước thành lập một quỹ quốc gia về đổi mới công nghệ để thực hiện việc này. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp chi cho nghiên cứu phát triển thông qua chính sách thuế. Nếu doanh nghiệp chi 10 đồng cho nghiên cứu phát triển thì Nhà nước sẽ trả lại 4 đồng thông qua chính sách khấu trừ thuế. Đây là chính sách rất mạnh mẽ để hỗ trợ các doanh nghiệp chi cho nghiên cứu phát triển. Đa số các quốc gia khác, Nhà nước chỉ trả lại 2 đồng nếu doanh nghiệp chi 10 đồng cho nghiên cứu phát triển. Trước đây, cơ bản NSNN không tài trợ cho nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp, mà chủ yếu chi cho các viện, trường. Thì nay, 70-80% NSNN cho KHCN sẽ tài trợ cho doanh nghiệp nghiên cứu phát triển. Khi tài trợ cho doanh nghiệp thường Nhà nước chi mồi 1 đồng và doanh nghiệp chi thêm 3-4 đồng. Đổi mới công nghệ, CĐS thì khó khăn nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Họ vừa thiếu tiền vừa thiếu nhân lực công nghệ. Lời giải ở đây là: Nhà nước hỗ trợ phát triển các nền tảng số quốc gia dùng chung, các doanh nghiệp SME có thể sử dụng các ứng dụng số này như là dịch vụ mà không phải đầu tư, với giá cả phù hợp. Đây là cách nhanh nhất để đổi mới công nghệ và CĐS các doanh nghiệp SME. Bộ KH&CN phối hợp Bộ Giáo dục và Đào tạo giao Học viện Công nghệ BCVT cùng một số đại học kỹ thuật công nghệ trọng điểm thực hiện chương trình đưa 10.000 sinh viên năm cuối về CNTT đến trực tiếp 10.000 doanh nghiệp SME để hỗ trợ sử dụng các nền tảng CĐS doanh nghiệp, mỗi sinh viên sẽ ở lại doanh nghiệp trong 1-2 tuần. Chính phủ cũng đang chỉ đạo Bộ KH&CN hỗ trợ hoàn thiện nền tảng số làm kế toán, khai báo thuế, marketing online, quản lý kho hàng, quản lý nhân viên…, để các hộ kinh doanh không phải thuê các lao động loại này khi chuyển đổi thành doanh nghiệp, nhằm giúp các hộ kinh doanh dễ dàng chuyển đổi thành doanh nghiệp. Chúng ta có khoảng 5 triệu hộ kinh doanh, nếu chuyển họ thành doanh nghiệp và sử dụng tốt các công cụ công nghệ thì họ có thể mở rộng quy mô, góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Để hình thành các doanh nghiệp lớn của Việt Nam, Nhà nước có chủ chương giao các dự án lớn quốc gia cho các doanh nghiệp dân tộc, kèm theo yêu cầu làm chủ công nghệ và yêu cầu hình thành ngành công nghiệp trong nước, thí dụ như dự án đường sắt cao tốc. Đây là các trận đánh lớn. Đây là cách rất tốt để hình thành các doanh nghiệp lớn quốc gia. Chỉ có việc lớn mới tạo ra doanh nghiệp lớn. Và cách tốt nhất để tạo ra doanh nghiệp lớn là giao việc lớn cho họ, nhưng phải kèm theo yêu cầu làm chủ công nghệ và sản phẩm. Nếu doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu năng lực thì họ sẽ thuê Tây làm cho

Tin tức, sự kiện

Doanh nghiệp muốn cạnh tranh được phải đổi mới công nghệ, doanh nghiệp muốn dẫn đầu phải nghiên cứu phát triển

Cổng TTĐT Bộ KH&CN trân trọng giới thiệu bài viết của Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng về vấn đề đổi mới công nghệ và nghiên cứu phát triển đối với các doanh nghiệp. Tăng trưởng bằng các động lực truyền thống đã dần tới hạn. Chúng ta có thể tăng trưởng tới 7% bằng các động lực truyền thống. Nhưng tăng thêm từ 7% tới 10% thì phải tìm các động lực tăng trưởng mới. 3% tăng trưởng mới này có thể đến từ khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS). Nông nghiệp đã giúp Việt Nam thoát nghèo. FDI, gia công, công nghiệp lắp ráp đã giúp Việt Nam thành nước thu nhập trung bình cao. Nhưng để trở thành nước phát triển có thu nhập cao, muốn “hóa rồng”, “hóa hổ”, thì phải dựa vào KHCN, ĐMST và CĐS. Bộ 3 KHCN, ĐMST và CĐS là động lực chính để phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cũng là 3 động lực chính để kinh tế tư nhân có thể tiếp nhận vai trò thành lực lượng quan trọng nhất, tiên phong trong phát triển đất nước. Luật KHCN và ĐMST có một đổi mới quan trọng là:KHCN phải hướng tới ĐMST, để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Lần đầu tiên, ĐMST được đưa vào luật và được đặt ngang hàng với KHCN, thể hiện sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển của Việt Nam. Nhấn mạnh ĐMST là việc chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, thúc đẩy ứng dụng KHCN vào thực tiễn, góp phần gia tăng giá trị và hiệu quả kinh tế – xã hội. Nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ là của các nhà khoa học, kỹ sư, nhưng ĐMST là của mọi doanh nghiệp, mọi hộ kinh doanh, mọi tổ chức, mọi người dân, giống như một cuộc cách mạng toàn dân của một quốc gia ĐMST và khởi nghiệp. Doanh nghiệp muốn cạnh tranh được thì phải đổi mới công nghệ. Doanh nghiệp muốn dẫn đầu thì phải nghiên cứu phát triển. Luật KHCN và ĐMST sẽ được Quốc hội thông qua vào tháng 6/2025 có nhiều đổi mới quan trọng. 1% ngân sách nhà nước (NSNN) hàng năm, tức là khoảng 25.000 tỷ đồng sẽ được chi hỗ trợ cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chủ yếu thông qua cơ chế hỗ trợ lãi suất vay, khoảng 50%, tức là nếu lãi suất vay 6% thì được hỗ trợ 3%. Nhà nước thành lập một quỹ quốc gia về đổi mới công nghệ để thực hiện việc này. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp chi cho nghiên cứu phát triển thông qua chính sách thuế. Nếu doanh nghiệp chi 10 đồng cho nghiên cứu phát triển thì Nhà nước sẽ trả lại 4 đồng thông qua chính sách khấu trừ thuế. Đây là chính sách rất mạnh mẽ để hỗ trợ các doanh nghiệp chi cho nghiên cứu phát triển. Đa số các quốc gia khác, Nhà nước chỉ trả lại 2 đồng nếu doanh nghiệp chi 10 đồng cho nghiên cứu phát triển. Trước đây, cơ bản NSNN không tài trợ cho nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp, mà chủ yếu chi cho các viện, trường. Thì nay, 70-80% NSNN cho KHCN sẽ tài trợ cho doanh nghiệp nghiên cứu phát triển. Khi tài trợ cho doanh nghiệp thường Nhà nước chi mồi 1 đồng và doanh nghiệp chi thêm 3-4 đồng. Đổi mới công nghệ, CĐS thì khó khăn nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Họ vừa thiếu tiền vừa thiếu nhân lực công nghệ. Lời giải ở đây là: Nhà nước hỗ trợ phát triển các nền tảng số quốc gia dùng chung, các doanh nghiệp SME có thể sử dụng các ứng dụng số này như là dịch vụ mà không phải đầu tư, với giá cả phù hợp. Đây là cách nhanh nhất để đổi mới công nghệ và CĐS các doanh nghiệp SME. Bộ KH&CN phối hợp Bộ Giáo dục và Đào tạo giao Học viện Công nghệ BCVT cùng một số đại học kỹ thuật công nghệ trọng điểm thực hiện chương trình đưa 10.000 sinh viên năm cuối về CNTT đến trực tiếp 10.000 doanh nghiệp SME để hỗ trợ sử dụng các nền tảng CĐS doanh nghiệp, mỗi sinh viên sẽ ở lại doanh nghiệp trong 1-2 tuần. Chính phủ cũng đang chỉ đạo Bộ KH&CN hỗ trợ hoàn thiện nền tảng số làm kế toán, khai báo thuế, marketing online, quản lý kho hàng, quản lý nhân viên…, để các hộ kinh doanh không phải thuê các lao động loại này khi chuyển đổi thành doanh nghiệp, nhằm giúp các hộ kinh doanh dễ dàng chuyển đổi thành doanh nghiệp. Chúng ta có khoảng 5 triệu hộ kinh doanh, nếu chuyển họ thành doanh nghiệp và sử dụng tốt các công cụ công nghệ thì họ có thể mở rộng quy mô, góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Để hình thành các doanh nghiệp lớn của Việt Nam, Nhà nước có chủ chương giao các dự án lớn quốc gia cho các doanh nghiệp dân tộc, kèm theo yêu cầu làm chủ công nghệ và yêu cầu hình thành ngành công nghiệp trong nước, thí dụ như dự án đường sắt cao tốc. Đây là các trận đánh lớn. Đây là cách rất tốt để hình thành các doanh nghiệp lớn quốc gia. Chỉ có việc lớn mới tạo ra doanh nghiệp lớn. Và cách tốt nhất để tạo ra doanh nghiệp lớn là giao việc lớn cho họ, nhưng phải kèm theo yêu cầu làm chủ công nghệ và sản phẩm. Nếu doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu năng lực thì họ sẽ thuê Tây làm cho

Lên đầu trang