Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ

Tên tác giả: admin

Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng đã ký Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 2/4/2026 phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 (Chiến lược). Mục tiêu của Chiến lược nhằm phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, quyết định nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia; đóng góp trực tiếp vào phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Đồng thời, phát triển tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đạt mức tiên tiến trong một số lĩnh vực quan trọng; hình thành năng lực làm chủ và phát triển một số công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, tạo nền tảng cho tự chủ công nghệ quốc gia. Cùng với đó, xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia hiện đại, hội nhập quốc tế; phát triển mạnh hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và đội ngũ doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có năng lực cạnh tranh khu vực, từng bước vươn ra thị trường toàn cầu. Chiến lược nêu rõ, mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu: Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%; Tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt tối thiểu 50%; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) không ngừng được cải thiện, thuộc nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới. Tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% GDP, trong đó nguồn ngoài ngân sách nhà nước chiếm trên 60%. Bố trí ít nhất 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (quy đổi toàn thời gian) đạt 12 người trên một vạn dân. Có tối thiểu 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới. Số lượng công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm. Số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16 – 18%/năm; tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8 – 10%. Chiến lược cũng nêu rõ, đến năm 2030 phấn đấu: Hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI) thuộc nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới; Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo (AI). Trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trung bình của thế giới; tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp; tỷ lệ kết quả nghiên cứu từ viện, trường được thương mại hóa đạt tối thiểu 30%. Hình thành tối thiểu 5 – 10 doanh nghiệp công nghệ quy mô khu vực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược; Làm chủ và sản xuất trong nước một số sản phẩm công nghệ chiến lược có tác động lớn đến kinh tế và an ninh quốc gia. Chiến lược cũng đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm để phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gồm: Thứ nhất, triển khai các chương trình, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược. Thứ hai, phát triển các lĩnh vực khoa học và công nghệ làm nền tảng cho đổi mới sáng tạo. Thứ ba, phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hạ tầng dữ liệu quốc gia. Thứ tư, phát triển tổ chức khoa học và công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Thứ năm, phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, thị trường khoa học và công nghệ và tài sản trí tuệ. Thứ sáu, chủ động hội nhập và thúc đẩy ngoại giao khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay cho Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030./. Nguồn: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Quyết định số 604/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030

Số ký hiệu 604/QĐ-TTg Ngày ban hành 02-04-2026 Loại văn bản Quyết định Cơ quan ban hành Thủ tướng Chính phủ Người ký Nguyễn Chí Dũng Trích yếu Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 Tài liệu đính kèm 604-ttg.signed.pdf  Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ

Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Hợp tác “ba nhà” mở đường cho tài sản mã hoá: Từ thí điểm chính sách đến kiến tạo thị trường công nghệ

Trong bối cảnh thị trường tài sản số phát triển nhanh nhưng hành lang pháp lý chưa hoàn thiện, việc thúc đẩy cơ chế thí điểm (sandbox) đang trở thành hướng đi chiến lược. Hội thảo “Hợp tác ba nhà trong phát triển tài sản mã hoá và thúc đẩy thị trường công nghệ” không chỉ là diễn đàn trao đổi chính sách mà còn mở ra cách tiếp cận mới: Đưa tài sản mã hoá từ “vùng thử nghiệm” vào quỹ đạo quản lý, từng bước hình thành chuẩn mực quốc gia và động lực tăng trưởng cho kinh tế số. Toàn cảnh Hội thảo. Hội thảo do Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với Công ty cổ phần VinSmart Future (thuộc Tập đoàn Vingroup) tổ chức ngày 20/3/2026 với sự tham gia của đông đảo đại biểu đến từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các chuyên gia công nghệ – tài chính. Hành lang pháp lý mở đường cho tài sản mã hoá Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin nhấn mạnh, Việt Nam đã có những bước đi ban đầu trong việc công nhận tài sản số như một loại tài sản hợp pháp. Các chính sách như Nghị quyết 05/2025/NQ-CP và các quy định liên quan đã tạo nền tảng cho việc thí điểm mô hình giao dịch tài sản mã hoá trong khuôn khổ kiểm soát. Trong đó, cơ chế sandbox được xác định là công cụ then chốt giúp cân bằng giữa đổi mới sáng tạo và quản lý rủi ro, đồng thời tạo dư địa để Nhà nước từng bước hoàn thiện thể chế dựa trên thực tiễn.  PGS.TS. Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN. Trong phần đề dẫn Hội thảo, PGS.TS. Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN đã đặt vấn đề một cách hệ thống và toàn diện về vai trò của tài sản mã hoá trong nền kinh tế số. Theo ông, tài sản mã hoá đang nổi lên như một loại hình tài sản mới với quy mô thị trường toàn cầu lên tới hàng nghìn tỷ USD, được nhiều quốc gia như Mỹ, EU, Singapore, Nhật Bản hay Trung Quốc chủ động xây dựng khung pháp lý và triển khai cơ chế sandbox để kiểm soát và thúc đẩy phát triển. Đặc biệt, xu hướng token hoá tài sản thực (RWA), bao gồm quyền sở hữu trí tuệ, dữ liệu và kết quả nghiên cứu khoa học, đang mở ra cơ hội mới để thương mại hoá công nghệ và gia tăng giá trị tài sản. Đặt trong bối cảnh Việt Nam, PGS.TS. Vũ Văn Tích cho rằng, hệ thống pháp lý đang từng bước hình thành thông qua Luật Công nghiệp công nghệ số, Nghị định số 353/2025/NĐ-CP và Nghị quyết 05/NQ-CP về thí điểm thị trường tài sản mã hoá, cùng với định hướng lớn từ Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tuy nhiên, khoảng trống lớn nhất hiện nay không nằm ở chính sách, mà ở cơ chế triển khai và phối hợp giữa “ba nhà”. Thực tiễn cho thấy, vẫn thiếu các cơ chế điều phối hiệu quả để chia sẻ nguồn lực, chuyển giao công nghệ bảo mật và phân bổ lợi ích giữa Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp. Ở góc độ thị trường, nhu cầu từ phía doanh nghiệp đang ngày càng rõ nét khi tài sản mã hoá được nhìn nhận như một công cụ giúp đa dạng hóa kênh huy động vốn, tăng thanh khoản và minh bạch hoá giao dịch. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn đối mặt với nhiều rào cản về chi phí tuân thủ, hạ tầng công nghệ và nhân lực chuyên môn. Do đó, theo PGS.TS. Vũ Văn Tích, việc thiết lập cơ chế sandbox với sự đồng hành của Nhà nước và sự hỗ trợ từ các viện, trường, tổ chức nghiên cứu là điều kiện tiên quyết để đưa tài sản mã hoá từ ý tưởng vào thực tiễn. PGS.TS. Vũ Văn Tích nhấn mạnh, Hội thảo lần này không chỉ dừng ở trao đổi học thuật mà hướng tới mục tiêu cụ thể: Xác định các loại hình tài sản mã hoá tiềm năng, đề xuất cơ chế thử nghiệm và chính sách phát triển; làm rõ vai trò của từng chủ thể trong hệ sinh thái; đồng thời kiến nghị các giải pháp và nguồn lực khả thi để thúc đẩy hợp tác “ba nhà”. Kết quả của Hội thảo sẽ được tổng hợp thành báo cáo tham vấn gửi Bộ KH&CN, làm cơ sở xây dựng chính sách, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và phát triển kinh tế số quốc gia. Tài sản mã hoá: Từ khái niệm đến cơ hội thương mại hóa Trong bối cảnh thị trường tài sản số đang phát triển mạnh mẽ nhưng chưa có hành lang pháp lý hoàn chỉnh, câu chuyện thí điểm mô hình sandbox cho sàn giao dịch tài sản mã hóa tại Việt Nam đã trở thành tâm điểm thảo luận tại hội thảo với sự tham gia của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và chuyên gia. Không chỉ dừng lại ở góc nhìn chính sách, các ý kiến cho thấy sự đồng thuận rõ ràng về sự cần thiết của một cơ chế “thử nghiệm có kiểm soát” nhằm vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa đảm bảo vai trò quản lý của Nhà nước, hướng tới xây dựng chuẩn mực quốc gia trong lĩnh vực tài sản số. Ông Nghiêm Minh Hoàng, Chuyên gia Ứng dụng Fintech, Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam. Ở góc độ chuyên gia, Nghiêm Minh Hoàng, Chuyên gia Ứng dụng Fintech, Hiệp

Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Xây dựng Tạp chí KH&CN Việt Nam trở thành trung tâm tri thức khoa học, kênh truyền thông chính sách tin cậy

Phó Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN, Tổng Biên tập Tạp chí KH&CN Việt Nam nhấn mạnh: Tạp chí không chỉ là nơi xuất bản bài báo, mà cần trở thành: Một trung tâm tri thức khoa học; Một kênh truyền thông chính sách tin cậy; Và là cầu nối giữa nghiên cứu – quản lý – thực tiễn. Ngày 19/3/2026, Tạp chí Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Việt Nam, Học viện Chiến lược KH&CN Việt Nam (Bộ KH&CN) đã tổ chức Hội nghị Viên chức, người lao động (NLĐ). TS. Nguyễn Thị Hương Giang, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN kiêm Tổng biên tập Tạp chí KH&CN Việt Nam dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Toàn cảnh Hội nghị. Hội nghị viên chức và NLĐ của Tạp chí KH&CN Việt Nam được tổ chức sau khi kết thúc 1 năm công tác. Đây là một diễn đàn quan trọng để Tạp chí cùng nhìn lại chặng đường đã qua và định hướng cho giai đoạn tới. Đạt nhiều kết quả ấn tượng trong năm 2025 Năm 2025, sau khi hợp nhất Tạp chí KH&CN Việt Nam thuộc Bộ KH&CN và Tạp chí Thông tin và Truyền thông (TT&TT) thuộc Bộ TT&TT) thành Tạp chí KH&CN Việt Nam mới, Tạp chí có 37 viên chức và NLĐ. Sau hợp nhất, Tạp chí là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Học viện Chiến lược KH&CN, Bộ KH&CN thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền, lý luận chuyên ngành phục vụ công tác quản lý nhà nước (QLNN) của Bộ KH&CN, công bố các kết quả nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực. Tạp chí luôn bám sát quy định về cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ theo Quyết định số 1498/QĐ-BKHCN ngày 27/6/2025 của Bộ trưởng Bộ KH&CN và thực hiện nghiêm túc tôn chỉ, mục đích và các loại hình hoạt động của Tạp chí được quy định tại Giấy phép hoạt động Tạp chí in và Tạp chí điện tử. Cụ thể, Tạp chí thực hiện thông tin tuyên truyền, lý luận chuyên ngành phục vụ công tác QLNN của Bộ KH&CN; giới thiệu, đăng tải kết quả nghiên cứu khoa học trong các ngành, lĩnh vực; trao đổi, phổ biến kinh nghiệm quản lý, tổ chức hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; thông tin về các hoạt động, công tác QLNN liên quan đến các lĩnh vực thuộc ngành KH&CN; truyền thông chính sách; thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng, Lãnh đạo Bộ và Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN giao. Báo cáo một số kết quả thực hiện nhiệm vụ trong năm 2025, ông Trần Anh Tú, Phó Tổng biên tập Tạp chí cho biết, Tạp chí đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Phó Tổng biên tập Trần Anh Tú: Tạp chí đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao trong năm 2025. Tạp chí KH&CN Việt Nam bản A phục vụ công tác QLNN về KHCN, ĐMST và CĐS xuất bản 12 số với 234 bài báo với nội dung được phân tích dưới nhiều giác độ khác nhau của các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp về KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia nhằm phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia. Tạp chí KH&CN Việt Nam bản B xuất bản 13/13 số, đăng tải các 169 bài báo khoa học bằng tiếng Việt thuộc các lĩnh vực: Khoa học Tự nhiên (KHTN), Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ, Khoa học Y – Dược, Khoa học Nông nghiệp, Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV). Năm 2025, Tạp chí bản B được 26 hội đồng giáo sư ngành, liên ngành tính điểm công trình khoa học, trong đó có 19 hội đồng tính điểm cao từ 0,75-1 điểm; được các nhà khoa học đánh giá cao về chuyên môn cũng như hình thức. Tạp chí KH&CN Việt Nam bản C (Vietnam Journal of Science, Technology and Engineering) phục vụ hoạt động hội nhập quốc tế về KH&CN đã xuất bản và phát hành 4/4 số, đăng tải 60 bài báo khoa học tiếng Anh thuộc các lĩnh vực KHTN, công nghệ và kỹ thuật, có chất lượng tốt, được thực hiện theo quy trình xuất bản quốc tế. Tạp chí bản C đã tham gia cơ sở dữ liệu (CSDL) khu vực và quốc tế: ACI (ASEAN Citation Index), OAJI (Open Academic Journals Index), DOAJ (Directory of Open Access Journals), CABI Abstracts và Global Health. Năm 2025, Tạp chí bản C được 16 hội đồng giáo sư ngành, liên ngành tính điểm công trình khoa học, trong đó có 15 hội đồng tính từ 0,75-1 điểm. Đặc biệt, tỷ lệ quốc tế hóa các bài viết của Tạp chí ngày càng cao, hiện tại chiếm từ 30-45%. Tạp chí KH&CN Việt Nam bản D (VMOST Journal of Social Sciences and Humanities) phục vụ hoạt động hội nhập quốc tế về KHXH&NV, đã xuất bản và phát hành 3/3 số, đăng tải 36 bài báo khoa học chất lượng bằng tiếng Anh trong các lĩnh vực KHXH&NV, góp phần hội nhập quốc tế về KHXH&NV. Năm 2025, Tạp chí bản D đã tham gia CSDL ACI (ASEAN Citation Index) và được 8/9 hội đồng giáo sư ngành/liên ngành tính điểm công trình khoa học. Tạp chí Chính sách và Quản lý KH&CN được tiếp nhận từ Ban Quản lý Khoa học và Đào tạo, Học viện Chiến lược KH&CN, tiếp tục xuất bản 2 số (tiếng Việt số 4/2025, tiếng Anh số 2/2025), đăng tải các kết quả nghiên cứu khoa học bằng tiếng Việt và tiếng Anh, trong lĩnh vực chính sách và quản

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Đặt KHCN, ĐMST và CĐS dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết cách tiếp cận của Việt Nam để tạo đột phá trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, trình bày tham luận. (Ảnh: TTXVN) Sáng 21/1, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thay mặt Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng trình bày tham luận về vấn đề: “Một số giải pháp đột phá đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) trở thành động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, nhanh và bền vững trong kỷ nguyên vươn mình bằng tri thức và công nghệ số, trong đó, ĐMST là cơ chế trung tâm để chuyển tri thức và công nghệ số thành năng suất, giá trị gia tăng và tăng trưởng bền vững”. Bộ 3 động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, từ thu nhập trung bình tới thu nhập cao, Việt Nam phải dựa vào KHCN, ĐMST và CĐS. Cả 3 động lực này đều được Đảng ta mở rộng nội hàm, tái định nghĩa theo cách tiếp cận mới, tạo ra không gian phát triển mở rộng hơn, khai phóng các nguồn lực mới để thúc đẩy tăng trưởng. “Với 3 động lực này, chúng ta có thể tăng trưởng 2 con số”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nói. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính thúc đẩy phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và nâng cao năng lực tự cường, tự chủ của đất nước. Nghị quyết số 57-NQ/TW như một “nghị quyết khoán 10” về KHCN, ĐMST và CĐS với tinh thần: Quản lý theo mục tiêu, không quản cách làm; trao quyền tự chủ và trách nhiệm cho người làm; chấp nhận rủi ro, đánh giá dựa trên hiệu quả tổng thể; người làm được hưởng lợi từ thành quả lao động và sáng tạo. Từ chỗ thiếu KHCN, ĐMST và CĐS, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết chúng ta sẽ tiến tới đủ, thừa, xuất khẩu và xuất khẩu lớn, giống như chúng ta đã làm được đối với nông nghiệp. “Mỗi quốc gia có văn hóa riêng, có ngữ cảnh riêng, có trình độ phát triển và chế độ khác nhau. Tìm ra cách tiếp cận phù hợp để đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS là quan trọng hàng đầu”. Xây dựng thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cũng cho biết cách tiếp cận của Việt Nam để tạo đột phá trong phát triển KHCN, ĐMST và CĐS là đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Theo đó, xây dựng thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh; Tập trung vào nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống người dân. Phát triển trong một hệ sinh thái đầy đủ và cân bằng, bao gồm thể chế, hạ tầng, nhân lực, nhà nước, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp (DN). Chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý đầu ra. Đặt KHCN trong bối cảnh CĐS và ĐMST. Bên cạnh đó là hướng vào giải quyết các bài toán lớn của đất nước như tăng trưởng 2 con số, năng suất, chất lượng, quản trị quốc gia, theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, tự chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược như là một cấu phần quan trọng của chủ quyền quốc gia. Đi từ ứng dụng, sản phẩm, thị trường tới làm chủ công nghệ. Cho phép và khuyến khích ứng dụng cái mới trong thực tiễn, coi đây là con đường nhanh nhất và hiệu quả nhất để hình thành, hoàn thiện và phát triển các công nghệ mới. Các đại biểu dự phiên thảo luận tại hội trường về các Văn kiện Đại hội. Đưa đổi mới sáng tạo trở thành lối sống, phong cách sống của mọi người dân Nói về tinh thần ĐMST trong toàn dân, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết cần đưa ĐMST trở thành lối sống, phong cách sống của mọi người dân, mọi tổ chức. Xây dựng văn hóa khuyến khích khám phá, khoan dung với thất bại. Đó còn là tiêu chuẩn phải đi trước để dẫn dắt phát triển quốc gia; sở hữu trí tuệ phải được coi là tài sản có thể định giá, mua bán, chuyển giao và khai thác trên thị trường. Sở hữu trí tuệ trở thành công cụ cạnh tranh chiến lược của doanh nghiệp và quốc gia. Một quốc gia phát triển là một quốc gia mà tài sản vô hình, tài sản trí tuệ chiếm tới 80% tổng tài sản. Tiên phong đo lường tác động của KHCN, ĐMST và CĐS Để KHCN, ĐMST, CĐS thực sự trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng, việc đầu tiên cần làm là đo lường sự đóng góp của bộ 3 này tới tăng trưởng GDP. Bộ KH&CN coi đây là việc quan trọng đầu tiên và đang xây dựng phương pháp đo, ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương. Việt Nam là một trong những nước đầu tiên đặt mục tiêu đo lường tác động của KHCN, ĐMST và CĐS tới tăng trưởng GDP. Đo lường hiệu quả còn là giải

Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Giá trị cốt lõi và Phương châm hành động của Bộ Khoa học và Công nghệ

Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ xin giới thiệu chia sẻ của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng về “Giá trị cốt lõi và phương châm hành động của Bộ Khoa học và Công nghệ”. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng. 1) Giá trị cốt lõi của Bộ Khoa học và Công nghệ Tiên phong – Sáng tạo – Đột phá – Tận tụy – Trung dũng – Nghĩa tình – Tiên phong: Đi đầu, dẫn đầu, mở đường. Đã là nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi lên môi trường số, đổi mới sáng tạo thì đều cần đi đầu. Đi đầu thì mới thay đổi được thứ hạng. Đi đầu thì mới hưởng lợi lớn. Đi đầu thì mới thoát được bẫy thu nhập trung bình, trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Đi đầu thì phải dám. – Sáng tạo: Là làm ra cái mới. Là phát minh, đổi mới, cải tiến, khác biệt so với trước. Muốn phát triển thì cần cái mới. Tạo ra cái mới để dẫn dắt xã hội. Tạo ra cái mới để làm nền tảng phát triển xã hội. Bản chất của KHCN là sáng tạo. Sáng tạo là luôn tìm cách tiếp cận mới, cách làm mới, định hình mới. Sáng tạo là đổi mới. Ngày hôm nay khác ngày hôm qua, và ngày mai khác ngày hôm nay. Sáng tạo tạo ra sức sống của một tổ chức. Không đổi mới, không sáng tạo thì giống như một tổ chức chết. Sáng tạo của giai đoạn này là sự sáng tạo dựa trên KHCN, ĐMST và CĐS. Sáng tạo là để ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay, dù chỉ một chút nhỏ 1%. – Đột phá: Bước tiến lớn vượt bậc, bứt phá mạnh mẽ, phá vỡ giới hạn cũ, sự sáng tạo mang tính phá huỷ, mô hình mới thay đổi cuộc chơi. Nghiên cứu KHCN tạo ra nhiều đột phá. Các cuộc CMCN là đột phá. Nhiều nghiên cứu xã hội, nhân văn và tự nhiên cũng tạo ra đột phá. Công nghệ chiến lược là những cái tạo ra đột phá. Đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững thì cần đột phá, cách tiếp cận mới, trong cả tư duy và hành động. – Tận tụy: Làm việc gì thì hết tâm, hết sức với việc đó, không quản ngại khó khăn, gian khổ hay thiệt thòi cá nhân. Tận tuỵ là thái độ với công việc. Người tận tuỵ là người có trách nhiệm cao với công việc. Người tận tuỵ là người có tình yêu với việc mình làm. Tận tuỵ là sự tự giác từ bên trong. Tận tuỵ là để ý đến cả các chi tiết khi làm mỗi việc, và vì thế mà việc mới xuất sắc. Làm việc gì thì chú vào việc đó. Tận tuỵ là phẩm chất cao quý, gắn với tinh thần phụng sự Tổ quốc, nhân dân. – Trung dũng: Trung thành, dũng cảm và trung thực. Trung thành, tận tâm, tận tuỵ, có tinh thần phụng sự, hết lòng với lý tưởng, với quốc gia, với tổ chức của mình. Dũng cảm, gan dạ, không sợ hãi trước khó khăn hay nguy hiểm, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám chấp nhận rủi ro. Trung thành là trung thành với lý tưởng, trung thành với sự nghiệp Đổi mới. Sống mà không có lý tưởng thì cũng giống như sống mà không có mục đích. Trung thành là dù trong hoàn cảnh nào, khó khăn đến mấy thì vẫn lý tưởng ấy, vẫn sự nghiệp ấy, vẫn mục tiêu ấy, vẫn ngôi sao dẫn lối ấy. Trung thành cũng còn là trung thành với tổ chức, đơn vị mình. Gặp khó khăn thì chung tay mà làm, không bỏ mà đi. Dũng cảm là dám nói suy nghĩ của mình, dám nhận việc mới mà làm, dám đặt mục tiêu cao, dám chấp nhận thách thức. Dũng cảm là đi xuyên qua khó khăn thay vì né tránh. Dũng cảm là khi gặp sự cố, tai nạn thì không đổ vấy sang đồng nghiệp, dám chịu trách nhiệm. Dũng cảm là khi thất bại thì đứng dậy làm tiếp, thử – sai nhiều lần để tiến tới thành công. Dũng cảm thì chung quy là một chữ “dám”. Trung thực là ngay thẳng, thành thực, không gian dối, liêm chính và trong sạch. – Nghĩa tình: Là biết ơn. Nghĩa tình là sự biết ơn. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Biết ơn các thế hệ đi trước. Là có trước, có sau. Hôm nay không tự nhiên mà có. Cái mình đang được hưởng hôm nay cũng không tự nhiên mà có. Muốn nghĩa tình thì đầu tiên là làm cho tổ chức mà cha anh đã dựng xây lên tiếp tục phát triển, có được những vinh quang lớn hơn. Giống như con sông thì có cội, có nguồn nhưng phải chảy ra được biển lớn. Là kế thừa quá khứ và mở ra tương lai mới. Nghĩa tình tạo ra mối liên kết giữa các thế hệ và tạo ra dòng chảy liên tục. Nghĩa tình chỉ có ở con người. 2) Phương châm hành động của Bộ Khoa học và Công nghệ Làm gương – Kỷ cương – Trọng tâm – Bứt phá – Làm gương: Là phương châm chính của người lãnh đạo. Làm lãnh đạo là nói trước, làm trước, dẫn cả làng theo sau. Mình có tin thì mới lan toả được niềm tin ấy tới người khác. Mình có làm thì người dưới mới làm theo. Làm gương cũng là một trong 5 phương thức lãnh đạo của Đảng ta. Với người châu Á, người Việt Nam, thì

Lên đầu trang