Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ

Tin tức, sự kiện – Sự kiện

Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Chuyển mạnh từ tư duy “làm cho có” sang tạo ra các sản phẩm thực chất, giá trị thực chất và hiệu quả thực chất

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh, với mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ chốt, là “chìa khóa vàng”, là yếu tố sống còn để hiện thực hóa khát vọng phát triển của đất nước. Thủ tướng Lê Minh Hưng và các đại biểu dự Lễ chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam và Hội nghị triển khai công nghệ chiến lược. Ngày 18/5/2026, tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức Lễ chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam cùng Hội nghị triển khai công nghệ chiến lược với chủ đề “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số – Động lực chính của mô hình tăng trưởng mới”. Tham dự sự kiện có Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân cùng lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương, đại diện tổ chức quốc tế, doanh nghiệp (DN), viện nghiên cứu, trường đại học và đông đảo nhà khoa học trong, ngoài nước. Điểm nhấn của chương trình là Hội nghị triển khai công nghệ chiến lược nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 21 ngày 30/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược quốc gia. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “chìa khóa vàng” Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Lê Minh Hưng gửi lời chúc mừng tới đội ngũ trí thức, nhà khoa học, chuyên gia và doanh nhân công nghệ nhân Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 18/5; đồng thời biểu dương những đóng góp thầm lặng của nhiều thế hệ làm công tác khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) trên cả nước. Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng: Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam không chỉ là dịp tôn vinh các nhà khoa học, trí thức và doanh nhân có thành tích trong nghiên cứu, ứng dụng KHCN mà còn góp phần khơi dậy niềm tự hào về trí tuệ Việt Nam và tinh thần ĐMST trong toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Thủ tướng nhắc lại lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Hội phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam ngày 18/5/1963 về vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học, kỹ thuật đối với phát triển đất nước. Theo Thủ tướng Lê Minh Hưng, lời dạy đó đã trở thành kim chỉ nam cho hoạt động KHCN Việt Nam suốt hơn 60 năm qua. Người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh, Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam không chỉ là dịp tôn vinh các nhà khoa học, trí thức và doanh nhân có thành tích trong nghiên cứu, ứng dụng KHCN mà còn góp phần khơi dậy niềm tự hào về trí tuệ Việt Nam và tinh thần ĐMST trong toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Theo Thủ tướng, trong bối cảnh mới, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) được xác định là nền tảng, động lực và đột phá chiến lược hàng đầu cho phát triển đất nước. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 và Kết luận số 246 ngày 12/5/2026 của Ban Chỉ đạo Chính phủ về phát triển KHCN, ĐMST và CĐS đã tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên KHCN, ĐMST và CĐS; đồng thời tập trung khơi thông nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ. Tuy nhiên, Thủ tướng cũng thẳng thắn chỉ ra nhiều hạn chế của hoạt động KHCN thời gian qua như chưa thực sự trở thành động lực đột phá cho phát triển kinh tế – xã hội; việc huy động nguồn lực chưa tương xứng; cơ chế phát triển KHCN còn chậm hoàn thiện; chính sách đào tạo, trọng dụng nhân lực KHCN vẫn còn bất cập. Quyết tâm làm chủ công nghệ chiến lược Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định quốc gia nào có năng lực KHCN, ĐMST cao sẽ nắm bắt được cơ hội để phát triển nhanh, bền vững. Với mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, KHCN, ĐMST và CĐS được xác định là động lực chủ chốt, là “chìa khóa vàng” và yếu tố sống còn để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. Để đạt được mục tiêu này, Thủ tướng đề nghị tập trung thực hiện một số định hướng lớn. Trước hết, Bộ KH&CN cần phát huy vai trò hạt nhân, phối hợp cùng các bộ, ngành, địa phương, DN, viện nghiên cứu và trường đại học triển khai hiệu quả Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược quốc gia theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Theo Thủ tướng, phát triển công nghệ chiến lược phải tạo

Đào tạo Tiến sĩ, Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ trao bằng Tiến sĩ cho nghiên cứu sinh Đặng Thu Giang

Chiều 15/5, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ đã tổ chức Lễ trao bằng Tiến sĩ cho bà Đặng Thu Giang – nghiên cứu sinh ngành Quản lý khoa học và công nghệ, sau khi bảo vệ thành công luận án cấp Học viện ngày 24/12/2024. Buổi lễ có sự tham dự của TS. Phạm Đình Nguyên, Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (KH&CN) – Bộ KH&CN; các Phó Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN: PGS. TS. Trần Văn Nghĩa, PGS. TS. Vũ Văn Tích, TS. Trần Minh Tân cùng đông đảo các giảng viên, nhà khoa học, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè của tân Tiến sĩ. Phát biểu tại buổi lễ, TS. Phạm Đình Nguyên, Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN chúc mừng bà Đặng Thu Giang đã nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn để hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ ngành Quản lý khoa học và công nghệ. TS. Phạm Đình Nguyên, Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN phát biểu tại buổi Lễ. Theo Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN, trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, vai trò của đội ngũ trí thức, các nhà khoa học và cán bộ quản lý khoa học công nghệ ngày càng quan trọng. Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội mà còn giữ vai trò then chốt trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. TS. Phạm Đình Nguyên nhấn mạnh, việc hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu nghiêm túc, bền bỉ và tinh thần vượt khó của mỗi nghiên cứu sinh. Giám đốc Học viện bày tỏ sự tin tưởng với những tri thức và kinh nghiệm tích lũy được, tân Tiến sĩ Đặng Thu Giang sẽ tiếp tục có nhiều đóng góp cho công tác nghiên cứu, tham mưu chính sách và quản lý khoa học công nghệ trong thời gian tới. Giám đốc Học viện Phạm Đình Nguyên cũng khẳng định, Học viện Chiến lược KH&CN luôn chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học, đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy và xây dựng môi trường học thuật gắn với thực tiễn phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chất lượng các luận án được hội đồng chuyên môn đánh giá cao là minh chứng cho năng lực đào tạo và nghiên cứu của Học viện trong thời gian qua. PGS.TS. Trần Văn Nghĩa trao bằng Tiến sĩ cho bà Đặng Thu Giang. Phát biểu cảm ơn tại buổi lễ, bà Đặng Thu Giang xúc động chia sẻ hành trình học tập, nghiên cứu với nhiều áp lực và thử thách. Theo tân Tiến sĩ Đặng Thu Giang, quá trình thực hiện luận án không chỉ là hành trình chinh phục tri thức mà còn giúp rèn luyện tư duy, bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm của người làm khoa học. Tân tiến sĩ Đặng Thu Giang phát biểu tại buổi Lễ. Tân Tiến sĩ Đặng Thu Giang cũng bày tỏ tri ân Ban Giám đốc Học viện, các thầy hướng dẫn, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã luôn đồng hành, động viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Tân tiến sĩ Đặng Thu Giang khẳng định sẽ tiếp tục vận dụng những tri thức đã tích lũy được để đóng góp cho công tác nghiên cứu, tham mưu chính sách và quản lý khoa học công nghệ trong thời gian tới. Buổi lễ khép lại trong không khí trang trọng, ấm áp với những khoảnh khắc trao bằng, tặng hoa chúc mừng và chụp ảnh lưu niệm đầy xúc động giữa Ban Giám đốc Học viện, các nhà khoa học, đồng nghiệp, gia đình và tân Tiến sĩ Đặng Thu Giang. Tân tiến sĩ Đặng Thu Giang chụp hình lưu niệm cùng gia đình, các nhà khoa học và Ban lãnh đạo Học viện Chiến lược KH&CN. Lễ trao bằng không chỉ đánh dấu cột mốc quan trọng trong hành trình học thuật của tân Tiến sĩ Đặng Thu Giang mà còn tiếp tục khẳng định vai trò, uy tín của Học viện Chiến lược KH&CN trong công tác đào tạo, nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản lý chiến lược trong giai đoạn mới./. Nguồn: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng đã ký Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 2/4/2026 phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 (Chiến lược). Mục tiêu của Chiến lược nhằm phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, quyết định nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia; đóng góp trực tiếp vào phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Đồng thời, phát triển tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đạt mức tiên tiến trong một số lĩnh vực quan trọng; hình thành năng lực làm chủ và phát triển một số công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, tạo nền tảng cho tự chủ công nghệ quốc gia. Cùng với đó, xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia hiện đại, hội nhập quốc tế; phát triển mạnh hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và đội ngũ doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có năng lực cạnh tranh khu vực, từng bước vươn ra thị trường toàn cầu. Chiến lược nêu rõ, mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu: Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%; Tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt tối thiểu 50%; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) không ngừng được cải thiện, thuộc nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới. Tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% GDP, trong đó nguồn ngoài ngân sách nhà nước chiếm trên 60%. Bố trí ít nhất 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (quy đổi toàn thời gian) đạt 12 người trên một vạn dân. Có tối thiểu 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới. Số lượng công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm. Số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16 – 18%/năm; tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8 – 10%. Chiến lược cũng nêu rõ, đến năm 2030 phấn đấu: Hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI) thuộc nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới; Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo (AI). Trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trung bình của thế giới; tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp; tỷ lệ kết quả nghiên cứu từ viện, trường được thương mại hóa đạt tối thiểu 30%. Hình thành tối thiểu 5 – 10 doanh nghiệp công nghệ quy mô khu vực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược; Làm chủ và sản xuất trong nước một số sản phẩm công nghệ chiến lược có tác động lớn đến kinh tế và an ninh quốc gia. Chiến lược cũng đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm để phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gồm: Thứ nhất, triển khai các chương trình, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược. Thứ hai, phát triển các lĩnh vực khoa học và công nghệ làm nền tảng cho đổi mới sáng tạo. Thứ ba, phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hạ tầng dữ liệu quốc gia. Thứ tư, phát triển tổ chức khoa học và công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Thứ năm, phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, thị trường khoa học và công nghệ và tài sản trí tuệ. Thứ sáu, chủ động hội nhập và thúc đẩy ngoại giao khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay cho Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030./. Nguồn: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Quyết định số 604/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030

Số ký hiệu 604/QĐ-TTg Ngày ban hành 02-04-2026 Loại văn bản Quyết định Cơ quan ban hành Thủ tướng Chính phủ Người ký Nguyễn Chí Dũng Trích yếu Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 Tài liệu đính kèm 604-ttg.signed.pdf  Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ

Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Hợp tác “ba nhà” mở đường cho tài sản mã hoá: Từ thí điểm chính sách đến kiến tạo thị trường công nghệ

Trong bối cảnh thị trường tài sản số phát triển nhanh nhưng hành lang pháp lý chưa hoàn thiện, việc thúc đẩy cơ chế thí điểm (sandbox) đang trở thành hướng đi chiến lược. Hội thảo “Hợp tác ba nhà trong phát triển tài sản mã hoá và thúc đẩy thị trường công nghệ” không chỉ là diễn đàn trao đổi chính sách mà còn mở ra cách tiếp cận mới: Đưa tài sản mã hoá từ “vùng thử nghiệm” vào quỹ đạo quản lý, từng bước hình thành chuẩn mực quốc gia và động lực tăng trưởng cho kinh tế số. Toàn cảnh Hội thảo. Hội thảo do Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với Công ty cổ phần VinSmart Future (thuộc Tập đoàn Vingroup) tổ chức ngày 20/3/2026 với sự tham gia của đông đảo đại biểu đến từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các chuyên gia công nghệ – tài chính. Hành lang pháp lý mở đường cho tài sản mã hoá Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin nhấn mạnh, Việt Nam đã có những bước đi ban đầu trong việc công nhận tài sản số như một loại tài sản hợp pháp. Các chính sách như Nghị quyết 05/2025/NQ-CP và các quy định liên quan đã tạo nền tảng cho việc thí điểm mô hình giao dịch tài sản mã hoá trong khuôn khổ kiểm soát. Trong đó, cơ chế sandbox được xác định là công cụ then chốt giúp cân bằng giữa đổi mới sáng tạo và quản lý rủi ro, đồng thời tạo dư địa để Nhà nước từng bước hoàn thiện thể chế dựa trên thực tiễn.  PGS.TS. Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN. Trong phần đề dẫn Hội thảo, PGS.TS. Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN đã đặt vấn đề một cách hệ thống và toàn diện về vai trò của tài sản mã hoá trong nền kinh tế số. Theo ông, tài sản mã hoá đang nổi lên như một loại hình tài sản mới với quy mô thị trường toàn cầu lên tới hàng nghìn tỷ USD, được nhiều quốc gia như Mỹ, EU, Singapore, Nhật Bản hay Trung Quốc chủ động xây dựng khung pháp lý và triển khai cơ chế sandbox để kiểm soát và thúc đẩy phát triển. Đặc biệt, xu hướng token hoá tài sản thực (RWA), bao gồm quyền sở hữu trí tuệ, dữ liệu và kết quả nghiên cứu khoa học, đang mở ra cơ hội mới để thương mại hoá công nghệ và gia tăng giá trị tài sản. Đặt trong bối cảnh Việt Nam, PGS.TS. Vũ Văn Tích cho rằng, hệ thống pháp lý đang từng bước hình thành thông qua Luật Công nghiệp công nghệ số, Nghị định số 353/2025/NĐ-CP và Nghị quyết 05/NQ-CP về thí điểm thị trường tài sản mã hoá, cùng với định hướng lớn từ Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tuy nhiên, khoảng trống lớn nhất hiện nay không nằm ở chính sách, mà ở cơ chế triển khai và phối hợp giữa “ba nhà”. Thực tiễn cho thấy, vẫn thiếu các cơ chế điều phối hiệu quả để chia sẻ nguồn lực, chuyển giao công nghệ bảo mật và phân bổ lợi ích giữa Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp. Ở góc độ thị trường, nhu cầu từ phía doanh nghiệp đang ngày càng rõ nét khi tài sản mã hoá được nhìn nhận như một công cụ giúp đa dạng hóa kênh huy động vốn, tăng thanh khoản và minh bạch hoá giao dịch. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn đối mặt với nhiều rào cản về chi phí tuân thủ, hạ tầng công nghệ và nhân lực chuyên môn. Do đó, theo PGS.TS. Vũ Văn Tích, việc thiết lập cơ chế sandbox với sự đồng hành của Nhà nước và sự hỗ trợ từ các viện, trường, tổ chức nghiên cứu là điều kiện tiên quyết để đưa tài sản mã hoá từ ý tưởng vào thực tiễn. PGS.TS. Vũ Văn Tích nhấn mạnh, Hội thảo lần này không chỉ dừng ở trao đổi học thuật mà hướng tới mục tiêu cụ thể: Xác định các loại hình tài sản mã hoá tiềm năng, đề xuất cơ chế thử nghiệm và chính sách phát triển; làm rõ vai trò của từng chủ thể trong hệ sinh thái; đồng thời kiến nghị các giải pháp và nguồn lực khả thi để thúc đẩy hợp tác “ba nhà”. Kết quả của Hội thảo sẽ được tổng hợp thành báo cáo tham vấn gửi Bộ KH&CN, làm cơ sở xây dựng chính sách, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và phát triển kinh tế số quốc gia. Tài sản mã hoá: Từ khái niệm đến cơ hội thương mại hóa Trong bối cảnh thị trường tài sản số đang phát triển mạnh mẽ nhưng chưa có hành lang pháp lý hoàn chỉnh, câu chuyện thí điểm mô hình sandbox cho sàn giao dịch tài sản mã hóa tại Việt Nam đã trở thành tâm điểm thảo luận tại hội thảo với sự tham gia của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và chuyên gia. Không chỉ dừng lại ở góc nhìn chính sách, các ý kiến cho thấy sự đồng thuận rõ ràng về sự cần thiết của một cơ chế “thử nghiệm có kiểm soát” nhằm vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa đảm bảo vai trò quản lý của Nhà nước, hướng tới xây dựng chuẩn mực quốc gia trong lĩnh vực tài sản số. Ông Nghiêm Minh Hoàng, Chuyên gia Ứng dụng Fintech, Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam. Ở góc độ chuyên gia, Nghiêm Minh Hoàng, Chuyên gia Ứng dụng Fintech, Hiệp

Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Xây dựng Tạp chí KH&CN Việt Nam trở thành trung tâm tri thức khoa học, kênh truyền thông chính sách tin cậy

Phó Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN, Tổng Biên tập Tạp chí KH&CN Việt Nam nhấn mạnh: Tạp chí không chỉ là nơi xuất bản bài báo, mà cần trở thành: Một trung tâm tri thức khoa học; Một kênh truyền thông chính sách tin cậy; Và là cầu nối giữa nghiên cứu – quản lý – thực tiễn. Ngày 19/3/2026, Tạp chí Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Việt Nam, Học viện Chiến lược KH&CN Việt Nam (Bộ KH&CN) đã tổ chức Hội nghị Viên chức, người lao động (NLĐ). TS. Nguyễn Thị Hương Giang, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN kiêm Tổng biên tập Tạp chí KH&CN Việt Nam dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Toàn cảnh Hội nghị. Hội nghị viên chức và NLĐ của Tạp chí KH&CN Việt Nam được tổ chức sau khi kết thúc 1 năm công tác. Đây là một diễn đàn quan trọng để Tạp chí cùng nhìn lại chặng đường đã qua và định hướng cho giai đoạn tới. Đạt nhiều kết quả ấn tượng trong năm 2025 Năm 2025, sau khi hợp nhất Tạp chí KH&CN Việt Nam thuộc Bộ KH&CN và Tạp chí Thông tin và Truyền thông (TT&TT) thuộc Bộ TT&TT) thành Tạp chí KH&CN Việt Nam mới, Tạp chí có 37 viên chức và NLĐ. Sau hợp nhất, Tạp chí là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Học viện Chiến lược KH&CN, Bộ KH&CN thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền, lý luận chuyên ngành phục vụ công tác quản lý nhà nước (QLNN) của Bộ KH&CN, công bố các kết quả nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực. Tạp chí luôn bám sát quy định về cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ theo Quyết định số 1498/QĐ-BKHCN ngày 27/6/2025 của Bộ trưởng Bộ KH&CN và thực hiện nghiêm túc tôn chỉ, mục đích và các loại hình hoạt động của Tạp chí được quy định tại Giấy phép hoạt động Tạp chí in và Tạp chí điện tử. Cụ thể, Tạp chí thực hiện thông tin tuyên truyền, lý luận chuyên ngành phục vụ công tác QLNN của Bộ KH&CN; giới thiệu, đăng tải kết quả nghiên cứu khoa học trong các ngành, lĩnh vực; trao đổi, phổ biến kinh nghiệm quản lý, tổ chức hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; thông tin về các hoạt động, công tác QLNN liên quan đến các lĩnh vực thuộc ngành KH&CN; truyền thông chính sách; thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng, Lãnh đạo Bộ và Giám đốc Học viện Chiến lược KH&CN giao. Báo cáo một số kết quả thực hiện nhiệm vụ trong năm 2025, ông Trần Anh Tú, Phó Tổng biên tập Tạp chí cho biết, Tạp chí đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Phó Tổng biên tập Trần Anh Tú: Tạp chí đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao trong năm 2025. Tạp chí KH&CN Việt Nam bản A phục vụ công tác QLNN về KHCN, ĐMST và CĐS xuất bản 12 số với 234 bài báo với nội dung được phân tích dưới nhiều giác độ khác nhau của các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp về KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia nhằm phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia. Tạp chí KH&CN Việt Nam bản B xuất bản 13/13 số, đăng tải các 169 bài báo khoa học bằng tiếng Việt thuộc các lĩnh vực: Khoa học Tự nhiên (KHTN), Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ, Khoa học Y – Dược, Khoa học Nông nghiệp, Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV). Năm 2025, Tạp chí bản B được 26 hội đồng giáo sư ngành, liên ngành tính điểm công trình khoa học, trong đó có 19 hội đồng tính điểm cao từ 0,75-1 điểm; được các nhà khoa học đánh giá cao về chuyên môn cũng như hình thức. Tạp chí KH&CN Việt Nam bản C (Vietnam Journal of Science, Technology and Engineering) phục vụ hoạt động hội nhập quốc tế về KH&CN đã xuất bản và phát hành 4/4 số, đăng tải 60 bài báo khoa học tiếng Anh thuộc các lĩnh vực KHTN, công nghệ và kỹ thuật, có chất lượng tốt, được thực hiện theo quy trình xuất bản quốc tế. Tạp chí bản C đã tham gia cơ sở dữ liệu (CSDL) khu vực và quốc tế: ACI (ASEAN Citation Index), OAJI (Open Academic Journals Index), DOAJ (Directory of Open Access Journals), CABI Abstracts và Global Health. Năm 2025, Tạp chí bản C được 16 hội đồng giáo sư ngành, liên ngành tính điểm công trình khoa học, trong đó có 15 hội đồng tính từ 0,75-1 điểm. Đặc biệt, tỷ lệ quốc tế hóa các bài viết của Tạp chí ngày càng cao, hiện tại chiếm từ 30-45%. Tạp chí KH&CN Việt Nam bản D (VMOST Journal of Social Sciences and Humanities) phục vụ hoạt động hội nhập quốc tế về KHXH&NV, đã xuất bản và phát hành 3/3 số, đăng tải 36 bài báo khoa học chất lượng bằng tiếng Anh trong các lĩnh vực KHXH&NV, góp phần hội nhập quốc tế về KHXH&NV. Năm 2025, Tạp chí bản D đã tham gia CSDL ACI (ASEAN Citation Index) và được 8/9 hội đồng giáo sư ngành/liên ngành tính điểm công trình khoa học. Tạp chí Chính sách và Quản lý KH&CN được tiếp nhận từ Ban Quản lý Khoa học và Đào tạo, Học viện Chiến lược KH&CN, tiếp tục xuất bản 2 số (tiếng Việt số 4/2025, tiếng Anh số 2/2025), đăng tải các kết quả nghiên cứu khoa học bằng tiếng Việt và tiếng Anh, trong lĩnh vực chính sách và quản

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Đặt KHCN, ĐMST và CĐS dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết cách tiếp cận của Việt Nam để tạo đột phá trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, trình bày tham luận. (Ảnh: TTXVN) Sáng 21/1, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thay mặt Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng trình bày tham luận về vấn đề: “Một số giải pháp đột phá đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) trở thành động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, nhanh và bền vững trong kỷ nguyên vươn mình bằng tri thức và công nghệ số, trong đó, ĐMST là cơ chế trung tâm để chuyển tri thức và công nghệ số thành năng suất, giá trị gia tăng và tăng trưởng bền vững”. Bộ 3 động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, từ thu nhập trung bình tới thu nhập cao, Việt Nam phải dựa vào KHCN, ĐMST và CĐS. Cả 3 động lực này đều được Đảng ta mở rộng nội hàm, tái định nghĩa theo cách tiếp cận mới, tạo ra không gian phát triển mở rộng hơn, khai phóng các nguồn lực mới để thúc đẩy tăng trưởng. “Với 3 động lực này, chúng ta có thể tăng trưởng 2 con số”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nói. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính thúc đẩy phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và nâng cao năng lực tự cường, tự chủ của đất nước. Nghị quyết số 57-NQ/TW như một “nghị quyết khoán 10” về KHCN, ĐMST và CĐS với tinh thần: Quản lý theo mục tiêu, không quản cách làm; trao quyền tự chủ và trách nhiệm cho người làm; chấp nhận rủi ro, đánh giá dựa trên hiệu quả tổng thể; người làm được hưởng lợi từ thành quả lao động và sáng tạo. Từ chỗ thiếu KHCN, ĐMST và CĐS, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết chúng ta sẽ tiến tới đủ, thừa, xuất khẩu và xuất khẩu lớn, giống như chúng ta đã làm được đối với nông nghiệp. “Mỗi quốc gia có văn hóa riêng, có ngữ cảnh riêng, có trình độ phát triển và chế độ khác nhau. Tìm ra cách tiếp cận phù hợp để đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS là quan trọng hàng đầu”. Xây dựng thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cũng cho biết cách tiếp cận của Việt Nam để tạo đột phá trong phát triển KHCN, ĐMST và CĐS là đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Theo đó, xây dựng thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh; Tập trung vào nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống người dân. Phát triển trong một hệ sinh thái đầy đủ và cân bằng, bao gồm thể chế, hạ tầng, nhân lực, nhà nước, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp (DN). Chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý đầu ra. Đặt KHCN trong bối cảnh CĐS và ĐMST. Bên cạnh đó là hướng vào giải quyết các bài toán lớn của đất nước như tăng trưởng 2 con số, năng suất, chất lượng, quản trị quốc gia, theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, tự chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược như là một cấu phần quan trọng của chủ quyền quốc gia. Đi từ ứng dụng, sản phẩm, thị trường tới làm chủ công nghệ. Cho phép và khuyến khích ứng dụng cái mới trong thực tiễn, coi đây là con đường nhanh nhất và hiệu quả nhất để hình thành, hoàn thiện và phát triển các công nghệ mới. Các đại biểu dự phiên thảo luận tại hội trường về các Văn kiện Đại hội. Đưa đổi mới sáng tạo trở thành lối sống, phong cách sống của mọi người dân Nói về tinh thần ĐMST trong toàn dân, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết cần đưa ĐMST trở thành lối sống, phong cách sống của mọi người dân, mọi tổ chức. Xây dựng văn hóa khuyến khích khám phá, khoan dung với thất bại. Đó còn là tiêu chuẩn phải đi trước để dẫn dắt phát triển quốc gia; sở hữu trí tuệ phải được coi là tài sản có thể định giá, mua bán, chuyển giao và khai thác trên thị trường. Sở hữu trí tuệ trở thành công cụ cạnh tranh chiến lược của doanh nghiệp và quốc gia. Một quốc gia phát triển là một quốc gia mà tài sản vô hình, tài sản trí tuệ chiếm tới 80% tổng tài sản. Tiên phong đo lường tác động của KHCN, ĐMST và CĐS Để KHCN, ĐMST, CĐS thực sự trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng, việc đầu tiên cần làm là đo lường sự đóng góp của bộ 3 này tới tăng trưởng GDP. Bộ KH&CN coi đây là việc quan trọng đầu tiên và đang xây dựng phương pháp đo, ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương. Việt Nam là một trong những nước đầu tiên đặt mục tiêu đo lường tác động của KHCN, ĐMST và CĐS tới tăng trưởng GDP. Đo lường hiệu quả còn là giải

Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Giá trị cốt lõi và Phương châm hành động của Bộ Khoa học và Công nghệ

Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ xin giới thiệu chia sẻ của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng về “Giá trị cốt lõi và phương châm hành động của Bộ Khoa học và Công nghệ”. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng. 1) Giá trị cốt lõi của Bộ Khoa học và Công nghệ Tiên phong – Sáng tạo – Đột phá – Tận tụy – Trung dũng – Nghĩa tình – Tiên phong: Đi đầu, dẫn đầu, mở đường. Đã là nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi lên môi trường số, đổi mới sáng tạo thì đều cần đi đầu. Đi đầu thì mới thay đổi được thứ hạng. Đi đầu thì mới hưởng lợi lớn. Đi đầu thì mới thoát được bẫy thu nhập trung bình, trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Đi đầu thì phải dám. – Sáng tạo: Là làm ra cái mới. Là phát minh, đổi mới, cải tiến, khác biệt so với trước. Muốn phát triển thì cần cái mới. Tạo ra cái mới để dẫn dắt xã hội. Tạo ra cái mới để làm nền tảng phát triển xã hội. Bản chất của KHCN là sáng tạo. Sáng tạo là luôn tìm cách tiếp cận mới, cách làm mới, định hình mới. Sáng tạo là đổi mới. Ngày hôm nay khác ngày hôm qua, và ngày mai khác ngày hôm nay. Sáng tạo tạo ra sức sống của một tổ chức. Không đổi mới, không sáng tạo thì giống như một tổ chức chết. Sáng tạo của giai đoạn này là sự sáng tạo dựa trên KHCN, ĐMST và CĐS. Sáng tạo là để ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay, dù chỉ một chút nhỏ 1%. – Đột phá: Bước tiến lớn vượt bậc, bứt phá mạnh mẽ, phá vỡ giới hạn cũ, sự sáng tạo mang tính phá huỷ, mô hình mới thay đổi cuộc chơi. Nghiên cứu KHCN tạo ra nhiều đột phá. Các cuộc CMCN là đột phá. Nhiều nghiên cứu xã hội, nhân văn và tự nhiên cũng tạo ra đột phá. Công nghệ chiến lược là những cái tạo ra đột phá. Đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững thì cần đột phá, cách tiếp cận mới, trong cả tư duy và hành động. – Tận tụy: Làm việc gì thì hết tâm, hết sức với việc đó, không quản ngại khó khăn, gian khổ hay thiệt thòi cá nhân. Tận tuỵ là thái độ với công việc. Người tận tuỵ là người có trách nhiệm cao với công việc. Người tận tuỵ là người có tình yêu với việc mình làm. Tận tuỵ là sự tự giác từ bên trong. Tận tuỵ là để ý đến cả các chi tiết khi làm mỗi việc, và vì thế mà việc mới xuất sắc. Làm việc gì thì chú vào việc đó. Tận tuỵ là phẩm chất cao quý, gắn với tinh thần phụng sự Tổ quốc, nhân dân. – Trung dũng: Trung thành, dũng cảm và trung thực. Trung thành, tận tâm, tận tuỵ, có tinh thần phụng sự, hết lòng với lý tưởng, với quốc gia, với tổ chức của mình. Dũng cảm, gan dạ, không sợ hãi trước khó khăn hay nguy hiểm, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám chấp nhận rủi ro. Trung thành là trung thành với lý tưởng, trung thành với sự nghiệp Đổi mới. Sống mà không có lý tưởng thì cũng giống như sống mà không có mục đích. Trung thành là dù trong hoàn cảnh nào, khó khăn đến mấy thì vẫn lý tưởng ấy, vẫn sự nghiệp ấy, vẫn mục tiêu ấy, vẫn ngôi sao dẫn lối ấy. Trung thành cũng còn là trung thành với tổ chức, đơn vị mình. Gặp khó khăn thì chung tay mà làm, không bỏ mà đi. Dũng cảm là dám nói suy nghĩ của mình, dám nhận việc mới mà làm, dám đặt mục tiêu cao, dám chấp nhận thách thức. Dũng cảm là đi xuyên qua khó khăn thay vì né tránh. Dũng cảm là khi gặp sự cố, tai nạn thì không đổ vấy sang đồng nghiệp, dám chịu trách nhiệm. Dũng cảm là khi thất bại thì đứng dậy làm tiếp, thử – sai nhiều lần để tiến tới thành công. Dũng cảm thì chung quy là một chữ “dám”. Trung thực là ngay thẳng, thành thực, không gian dối, liêm chính và trong sạch. – Nghĩa tình: Là biết ơn. Nghĩa tình là sự biết ơn. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Biết ơn các thế hệ đi trước. Là có trước, có sau. Hôm nay không tự nhiên mà có. Cái mình đang được hưởng hôm nay cũng không tự nhiên mà có. Muốn nghĩa tình thì đầu tiên là làm cho tổ chức mà cha anh đã dựng xây lên tiếp tục phát triển, có được những vinh quang lớn hơn. Giống như con sông thì có cội, có nguồn nhưng phải chảy ra được biển lớn. Là kế thừa quá khứ và mở ra tương lai mới. Nghĩa tình tạo ra mối liên kết giữa các thế hệ và tạo ra dòng chảy liên tục. Nghĩa tình chỉ có ở con người. 2) Phương châm hành động của Bộ Khoa học và Công nghệ Làm gương – Kỷ cương – Trọng tâm – Bứt phá – Làm gương: Là phương châm chính của người lãnh đạo. Làm lãnh đạo là nói trước, làm trước, dẫn cả làng theo sau. Mình có tin thì mới lan toả được niềm tin ấy tới người khác. Mình có làm thì người dưới mới làm theo. Làm gương cũng là một trong 5 phương thức lãnh đạo của Đảng ta. Với người châu Á, người Việt Nam, thì

Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 – Khối Khoa học, Chiến lược, Hợp tác quốc tế và Pháp chế

Ngày 20/12/2025, Khối Khoa học, Chiến lược, Hợp tác quốc tế và Pháp chế thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026. Hội nghị có sự tham dự của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, Thứ trưởng Bùi Thế Duy, cùng lãnh đạo, nguyên lãnh đạo và cán bộ chủ chốt của các đơn vị thuộc Khối.                                                        Thực hiện: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam Lắng nghe các báo cáo, tham luận của Khối và các đơn vị trong Khối, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng và Thứ trưởng Bùi Thế Duy ghi nhận những nỗ lực của các đơn vị và nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy, đổi mới cách làm. Tất cả những đổi mới đó cần con người có khát vọng lớn, giỏi nghề và tử tế. Từ “tử tế” cần được nhắc nhiều hơn trong xã hội hôm nay. Cuối cùng, Bộ trưởng mong mọi người: “Làm ra làm, chơi ra chơi. Làm nghiêm túc, chơi hết mình. Tránh sống ‘nhờ nhờ’”. Chỉ người đứng đầu mới tạo được văn hóa đó./. Nguồn: Tạp chí Khoa học và Công nghệ

Tin tức, sự kiện - Sự kiện

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nói về sự tận tụy, đổi mới để bứt phá

Người đứng đầu ngành Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đã chia sẻ những định hướng mang tính chiến lược đối với 5 đơn vị thuộc Khối Khoa học, Chiến lược, Hợp tác quốc tế và Pháp chế – Bộ KH&CN, trong đó Bộ trưởng nhấn mạnh đến những việc cần đổi mới. Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Các cán bộ không chỉ hoàn thành nhiệm vụ thường xuyên mà còn đảm đương tốt những việc khó, việc mới lần đầu làm. Sự tận tuỵ cho một năm bước ngoặt Năm 2025 là một năm rất đặc biệt đối với đất nước và đối với Bộ KH&CN khi hai Bộ KH&CN và Bộ Thông tin và Truyền thông hợp nhất thành Bộ KH&CN mới. Theo đó, tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Khối Khoa học, Chiến lược, Hợp tác quốc tế và Pháp chế – Bộ KH&CN chiều ngày 20/12, người đứng đầu ngành KH&CN, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng một lần nữa nhấn mạnh: Bộ KH&CN mới có sứ mệnh mới, quy mô to hơn. “Hợp nhất không chỉ là cộng hai tổ chức lại mà là tạo ra sự hợp lực, cộng hưởng giữa Khoa học công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) để trở thành “bộ ba trụ cột”, là động lực chính phát triển đất nước. Trong bối cảnh đó, mặc dù mới hợp nhất được 9 tháng, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đánh giá rất cao nỗ lực của các đơn vị trong Khối. “Các cán bộ không chỉ hoàn thành nhiệm vụ thường xuyên mà còn đảm đương tốt những việc khó, việc mới lần đầu làm trong điều kiện bộ máy và phương thức quản lý có nhiều thay đổi. Có những đơn vị là 5 đơn vị nhập lại với nhau. Đây là một việc chưa từng có, thường chỉ 2 đơn vị nhập lại đã rất vất vả rồi”. Với những nỗ lực to lớn đó, thay mặt Ban Thường vụ và lãnh đạo Bộ KH&CN, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng bày tỏ trân trọng, cảm ơn sự hy sinh vất vả, tận tâm, tận lực của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của các đơn vị. Năm 2025 là năm mang tính bước ngoặt. Bộ trưởng đánh giá các cán bộ đã có nhiều thay đổi cả về nhận thức, cách làm, cách sử dụng các công cụ đặc biệt mới và đã mang lại nhiều kết quả hơn. Bộ trưởng đơn cử: “Một Bộ trước đây trong một nhiệm kỳ 5 năm chắc chỉ sửa được 1-2 bộ luật là nhiều. Bộ KH&CN mới sửa 10 bộ luật, tương đương khối lượng 25 năm. Mấy luật này lại hoàn thành chỉ trong 1 năm. Một năm bằng 25 năm”. Luật Chuyển đổi số của Việt Nam, cho đến nay đây có thể nói là bộ luật duy nhất trên thế giới về lĩnh vực này, Bộ trưởng cho biết. Nhiều nước sẽ học hỏi kinh nghiệm của Việt Nam. Việt Nam cũng là nước sớm ban hành luật AI. Luật Công nghiệp công nghệ số cũng là một luật rất khó đã được ban hành. Luật Khoa học, Công nghệ và ĐMST là luật gắn KHCN với ĐMST, CĐS cũng là mô hình ít nước có. Bài học được Bộ trưởng rút ra là con người thực sự có năng lực đặc biệt khi bị rơi vào tình huống đặc biệt. “Việc Bộ KH&CN có 10 bộ luật được thông qua trong một kỳ Quốc hội là rất kỷ lục. Nhiều khi đứng ngoài nhìn thì thấy rất khó, nhưng khi bị đẩy vào tình huống khó thì lại có thể bứt phá lên được”. Cũng theo Bộ trưởng, “Năm 2025 là năm các cán bộ của Bộ trải nghiệm khi gặp việc lớn, thách thức cao, chúng ta phải đổi mới cách làm, áp dụng công nghệ. Thách thức cũng làm chúng ta có thêm năng lượng để vượt qua. Và khi vượt qua, chúng ta sẽ thấy trưởng thành và tự tin hơn rất nhiều”. Theo đó, Bộ trưởng đánh giá cao cán bộ của Khối cũng đã quen dần với cách làm việc mới, đặc biệt là cách làm hướng tới kết quả, tác động cuối cùng nhiều hơn. “Đây là thay đổi quan trọng vì nếu không hướng tới kết quả cuối cùng thì đất nước không thể phát triển”. Toàn cảnh Hội nghị. Đổi mới để tiến xa Định hướng phát triển cho các đơn vị thuộc Khối trong năm 2026, Bộ trưởng đề nghị các đơn vị cần có những đổi mới quan trọng: Đối với Học viện Chiến lược KH&CN, làm chiến lược cần phù hợp với văn hoá tổ chức, đất nước. “Người làm chiến lược bây giờ khó ở chính chỗ đó. Học viện Chiến lược KH&CN phải trở thành nơi mà lãnh đạo Bộ trước khi ra quyết định lớn phải tìm đến”, Bộ trưởng nhấn mạnh. Bộ trưởng đề nghị Học viện cần có một số đổi mới. Đầu tiên là về vai trò. “Học viện cần chuyển từ nghiên cứu, đào tạo sang vai trò “bộ não chiến lược” của Bộ. Lãnh đạo Bộ có thể xuất sắc nhưng có quá nhiều thứ phải làm, không thể chuyên sâu nghiên cứu như các bạn”. Hơn nữa, theo Bộ trưởng, lãnh đạo Bộ có thể thay đổi theo nhiệm kỳ, nên Học viện Chiến lược KH&CN cần duy trì sự bền vững. Hiện nay nguồn tài liệu nghiên cứu chiến lược rất phong phú. “Học viện phải tham mưu chiến lược trung và dài hạn phù hợp hoàn cảnh hiện nay. Làm chiến lược không phải để viết báo cáo rồi đút tủ, mà để giúp Bộ KH&CN ra các quyết định lớn”. Đổi mới thứ hai là về sản phẩm.

Lên đầu trang