Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ

Tin tức, sự kiện – Tin tức

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Thông báo về việc kéo dài thời gian nhận hồ sơ dự tuyển nghiên cứu sinh năm 2020

Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo có thông báo tuyển sinh đào tạo trình độ Tiến sĩ năm 2020 ngành Quản trị – Quản lý, chuyên ngành Quản lý khoa học và công nghệ số 397/TB-HVKHCN ngày 03/8/2020. Do yêu cầu công tác, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo có thông báo về việc kéo dài thời gian nhận hồ sơ dự tuyển nghiên cứu sinh năm 2020 như sau: [pdf-embedder url=\”http://visti.gov.vn/wp-content/uploads/2020/12/11_16.11.2020_CV-655-HVKHCN.pdf\” title=\”11_16.11.2020_CV 655 – HVKHCN\”] Nguồn VISTI

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo với các mục tiêu phát triển bền vững

Chiều ngày 06/11/2020, Ủy ban về Khoa học và Công nghệ (thuộc Hội đồng Quốc gia về Phát triển bền vững và Nâng cao năng lực cạnh tranh) đã họp phiên toàn thể dưới sự chủ trì của đồng chí Bùi Thế Duy – Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Phó Chủ tịch Ủy ban. Tham dự Phiên họp có các thành viên của Ủy ban; đại diện một số Bộ, ngành, cơ quan cùng một số đơn vị trực thuộc Bộ KH&CN. Thứ trưởng Bộ KH&CN, Phó Chủ tịch Ủy ban KH&CN Bùi Thế Duy chủ trì Phiên họp. Đóng góp lớn của KHCN và đổi mới sáng tạo Tại Phiên họp, ông Hoàng Minh – Giám đốc Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) đã báo cáo tóm tắt về hoạt động của Ủy ban. Theo đó, thời gian qua, với vai trò là Chủ tịch của Uỷ ban, Bộ KH&CN đã phối hợp với các bên liên quan triển khai xây dựng Chương trình công tác của Uỷ ban; góp ý các chính sách về phát triển bền vững (PTBV); tổ chức và tham gia trình bày tại các hội nghị, hội thảo quốc gia về PTBV. Đồng thời tổ chức nghiên cứu, xây dựng các báo cáo chuyên đề gửi Hội đồng quốc gia về PTBV và Nâng cao năng lực cạnh tranh: báo cáo hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ hoạt động ĐMST; nâng cao năng lực hấp thụ và phát triển công nghệ; thu hút nguồn lực cho hoạt động KHCN&ĐMST; báo cáo hướng dẫn của Liên hợp quốc về đánh giá chính sách KHCN&ĐMST nhằm tăng cường vai trò của KHCN&ĐMST trong thực hiện các mục tiêu PTBV; báo cáo hướng dẫn của Liên hợp quốc về gắn kết KH,CN&ĐMST vào lộ trình PTBV của quốc gia, đề xuất, khuyến nghị gắn kết KHCN&ĐMST vào lộ trình PTBV của Việt Nam. Ông Hoàng Minh – Giám đốc Học viện KHCN&ĐMST báo cáo kết quả hoạt động của Ủy ban KH&CN. Theo ông Hoàng Minh, với vai trò là tổ chức toàn cầu lớn nhất, Liên hợp quốc đã xây dựng các sáng kiến nhằm phối hợp với các chính phủ, các đối tác nhà nước và tư nhân, các ngân hàng phát triển, các tổ chức tài chính quốc tế và khu vực, các cơ quan của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế trong thúc đẩy vai trò và sự đóng góp của KH,CN&ĐMST để đạt được các mục tiêu PTBV gồm: thiết lập cơ chế thúc đẩy công nghệ; thành lập Ủy ban Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Khoa học và Đổi mới sáng tạo; xây dựng Lộ trình triển khai chương trình nghị sự 2030 về PTBV khu vực Châu Á Thái Bình Dương của UNESCAP. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá đứng thứ 49/166 quốc gia về chỉ số PTBV năm 2020, tăng 7 bậc so với xếp hạng của năm 2019 và đạt điểm đánh giá cao hơn mức trung bình của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng dự thảo Báo cáo quốc gia thực hiện các mục tiêu PTBV và đang được hoàn thiện trên cơ sở góp ý của các bộ, ngành, cơ quan. Theo đại diện Bộ Công Thương, Bộ đã có những bước điều chỉnh nhanh chóng trong định hướng cũng như cách thức tổ chức thực hiện để phù hợp với bối cảnh KHCN&ĐMST có ảnh hưởng ngày càng rõ nét đối với các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện các mục tiêu PTBV. Các nhiệm vụ đã tập trung vào hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ, quản trị sản xuất, phát triển sản phẩm theo chuỗi giá trị để tạo ra sản phẩm, hàng hóa mang nhãn hiệu Việt Nam có giá trị gia tăng và tính cạnh tranh cao trên thị trường. Ngành đã tập trung quán triệt, xây dựng và triển khai định hướng của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo của Chính phủ trong phát triển KH&CN phục vụ quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa và mở cửa hội nhập; triển khai có hiệu quả các chương trình KH&CN cấp Bộ, cấp Quốc gia; đổi mới, hoàn thiện công tác tiêu chuẩn, đo lường và sở hữu trí tuệ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần thực thi các Hiệp định thương mại đa phương, song phương;… Các thành tựu nổi bật trong nhiều lĩnh vực (thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí, khai thác và chế biến khoáng sản, năng lượng điện, cơ khí chế tạo, hóa dược, công nghiệp chế biến và công nghệ cao,…) chính là sự khẳng định việc áp dụng cách tiếp cận KHCN&ĐMST phù hợp trong thực hiện phát triển bền vững ngành Công thương. Nhờ cách tiếp cận nói trên, các hoạt động nghiên cứu và phát triển có vai trò ngày càng quan trọng đối với các doanh nghiệp, tạo đột phá trong sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Theo khảo sát của Tổng cục Thống kê năm 2017 – 2018, trong lĩnh vực ĐMST có hơn 80% doanh nghiệp lớn tham gia thực hiện đổi mới sản phẩm hoặc quy trình, gần 50% mở rộng lĩnh vực sản xuất – kinh doanh; với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chỉ số tương ứng khoảng 50% và 17% – 18%. Giá trị gia tăng ngành công nghiệp trong giai đoạn 2016 – 2020 dự kiến đạt trên 8,5%, cao hơn so với giai đoạn 2011 – 2015 (7,6%). KHCN&ĐMST cũng góp phần gia tăng nội địa hóa linh kiện, phụ tùng trong nhiều ngành công nghiệp, hình thành một số doanh nghiệp/tập đoàn kinh tế

Đào tạo sau đại học, Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Quyết định về việc ban hành Chuẩn đầu ra đào tạo trình độ Thạc sĩ ngành Quản lý khoa học và công nghệ

Quyết định về việc ban hành Chuẩn đầu ra đào tạo trình độ Thạc sĩ ngành Quản lý khoa học và công nghệ [pdf-embedder url=\”http://visti.gov.vn/wp-content/uploads/2020/10/A3.2-CHUAN-DAU-RA.pdf\” title=\”A3.2 CHUAN DAU RA\”] Nguồn VISTI

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Khai giảng lớp Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu viên cao cấp (hạng I) – Khóa 1 và lớp Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh công nghệ: kỹ sư cao cấp (hạng I) – Khóa 1

Thực hiện kế hoạch triển khai các lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ năm 2020, sáng ngày 01/10/2020,tại Hà Nội, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (VISTI) long trọng tổ chức Lễ khai giảng lớp Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu viên cao cấp (hạng I) – Khóa 1 và lớp Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh công nghệ: kỹ sư cao cấp (hạng I) – Khóa 1 từ ngày 01/10/2020 đến ngày 27/11/2020. Tham dự Lễ khai giảng có ông Đỗ Việt Trung – Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức, Bộ Khoa học và Công nghệ và ôngNguyễn Ngọc Song – Phó Giám đốc Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng hơn 150  học viênlớp nghiên cứu viên cao cấp và hơn 20 học viên lớp kỹ sư cao cấp tham dự khóa học. Toàn cảnh Lễ khai giảng lớp học Phát biểu tại Lễ khai giảng, ông Đỗ Việt Trung – Phó Vụ Trưởng Vụ Tổ chức, Bộ Khoa học và Công nghệ nhậnđịnh với mục tiêu bổ sung, cập nhật nâng cao nhận thức kỹ năng nghiên cứu khoa học ngạch nghiên cứu viên cao cấp và chức danh công nghệ kỹ sư cao cấp để vận dụng vào thực tiễn công việc, làm tốt hơn công việc, đạt năng suất chất lượng hiệu quả cao hơn. Mặt khác, đây còn là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức có chất lượng đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Sau khóa học này, mong rằng với những kiến thức đã được học, các học viên sẽ là những nhân tố tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng cũng như hiệu quả công việc tại đơn vị công tác trong thời gian tới. Tham gia giảng dạy, chia sẻ tại khóa bồi dưỡng này là những chuyên gia có đầy đủ các tiêu chuẩn về học hàm, học vị, có kinh nghiệm trong đào tạo bồi dưỡng các lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh viên chức ngành khoa học và công nghệ và đã từng tham gia các chức vụ lãnh đạo quản lý, có các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học… Tuy nhiên, để khóa học đạt được hiệu quả cao nhất thì việc trao đổi kinh nghiệm trong thực tiễn là hết sức cần thiết. Vì vậy, mỗi học viên sẽ chia sẻ kinh nghiệm của chính mình góp phần làm rõ hơn, tổng hợp được nhiều hơn những kiến thức, kỹ năng xử lý tốt công việc trong quá trình thực hiện công vụ. Ông Đỗ Việt Trung phát biểu tại Lễ Khai giảng Đại diện cơ sở đào tạo, TS. Nguyễn Ngọc Song nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ viên chức chuyên ngành  khoa học và công nghệ trong thời kỳ hiện nay. Khóa học sẽ cung cấp, bổ sung kiến thức giúp các học viên thực hiện tốt các nhiệm vụ theo vị trí chức danh nghề nghiệp, trở thành những viên chức nòng cốt của đơn vị mình. Đồng thời góp phần nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp để thực hiện tốt các nhiệm vụ của viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ, đáp ứng theo tiêu chuẩn chức danh nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu viên cao cấp (hạng I) và chức danh công nghệ: kỹ sư cao cấp (hạng I). TS. Nguyễn Ngọc Song phát biểu tại Lễ Khai giảng Bên cạnh đó, đồng chí Phó Giám đốc Học viện đề nghị các học viên tham gia lớp học nêu cao tinh thần tự giác, ý thức kỉ luật, chấp hành nghiêm quy định, nội quy của lớp học cũng như quy định của Học viện, phát huy tinh thần gương mẫu, tích cực trong học tập để lĩnh hội tốt nhất những kiến thức mà giảng viên truyền đạt trên lớp, quan trọng hơn là cùng với các giảng viên thảo luận những chuyên đề và trình bày những vấn đề cập nhật, thiết thực nhất và hy vọng các học viên sẽ hoàn thành tốt khóa bồi dưỡng và cùng với ban tổ chức đạt được các mục tiêu của chương trình đề ra. Các học viên tham gia lớp bồi dưỡng Lễ khai giảng diễn ra nghiêm túc với không khí phấn khởi và sau buổi khai giảng các Học viên sẽ học tập các chuyên đề theo kế hoạch đề ra. Trong thời gian diễn ra khóa học, Học viên sẽ được truyền đạt và tiếp thu các nội dung như sau: – Lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu viên cao cấp (hạng I) gồm: 12 chuyên đề kiến thức và kỹ năng, 02 bài kiểm tra, 01 kỳ thực tế và bài thu hoạch tình huống cuối khóa học. – Lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh công nghệ: kỹ sư cao cấp (hạng I) gồm: 10 chuyên đề kiến thức và kỹ năng, 02 bài kiểm tra, 01 kỳ thực tế và bài thu hoạch tình huống cuối khóa học. Những kiến thức tổng hợp sẽ giúp các học viên hệ thống và cập nhật kiến thức để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình./. Nguồn: VISTI        

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Cam kết tăng đầu tư thích đáng cho KH&CN

Ngày 10/9, tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đã có buổi làm việc để đánh giá kết quả phối hợp công tác giai đoạn 2016-2020, định hướng nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2021-2025. Tham gia buổi làm việc có Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cùng đại diện lãnh đạo các cơ quan hai Bộ. Hai Bộ trưởng Chu Ngọc Anh và Nguyễn Chí Dũng đồng chủ trì buổi làm việc Dấu ấn KH&CN có sự đóng góp đồng hành không nhỏ của Bộ KH&ĐT Báo cáo tại buổi làm việc, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch- Tài chính Nguyễn Nam Hải cho biết: 5 năm qua KHCN đã có nhiều đóng góp vào phát triển KT-XH thể hiện qua chất lượng tăng trưởng được cải thiện, tỷ trọng các sản phẩm công nghệ trong tỷ trọng xuất khẩu đạt gần 50%, chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tục tăng, từ vị trí 59 lên 42 năm 2020. Kết quả này có sự chỉ đạo của Chính phủ, phối hợp của các bộ ngành, sự đồng hành của Bộ KH&ĐT góp phần phát huy tiềm năng của ngành, lĩnh vực KH&CN phục vụ phát triển KT-XH theo hướng chuyển dịch về mô hình tăng trưởng thông qua chuỗi giá trị. Theo Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định, hướng đầu tư cho giai đoạn tới tập trung vào Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (KH,CN&ĐMST) gắn vào sản phẩm, công nghệ, doanh nghiệp, lượng hóa kết quả nghiên cứu KH&CN đưa vào trong sản xuất đời sống, tăng năng suất chất lượng. Vì vậy các nhóm dự án cũng theo hướng này phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp và sự kết nối, phát triển, làm chủ công nghệ trong nước. Nhiều chia sẻ của lãnh đạo các đơn vị thuộc 2 Bộ đưa ra về định hướng nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2021-2025, tựu chung đều thể hiện mục tiêu huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực đầu tư cho KH&CN. Các đại biểu thống nhất cần tạo mọi nguồn lực để thúc đẩy KH,CN&ĐMST phát triển. Về việc thực hiện đầu tư công đúng hạn ngành KH&CN, hai Bộ nhất quán quan điểm chỉ đạo của Chính phủ coi KH&CN là quốc sách hàng đầu, động lực cho phát triển KT-XH. Vì thế, đầu tư ngân sách nhà nước cho KH&CN tập trung vào một số mảng chính: Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, các nhiệm vụ KH&CN các cấp; Đầu tư phát triển để tăng cường cơ sở vật chất KH&CN… “Đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước cho hoạt động KH&CN luôn là nguồn đầu tư chủ yếu, cơ bản để nâng cao tiềm lực KH&CN của đất nước đã có sự thay đổi về cơ cấu, phân cấp để phù hợp với nhu cầu nguồn lực đầu tư hiện tại” – Vụ trưởng Vụ Kế hoạch- Tài Chính Nguyễn Nam Hải cho biết. Cam kết ủng hộ mạnh mẽ đầu tư cho KH&CN Nói về sự phối hợp của 2 Bộ trong thời gian qua, Bộ trưởng Chu Ngọc Anh đánh giá cao sự phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt chặt chẽ giữa hai Bộ. Những kết quả mà Bộ KH&CN có được trong thời gian qua một phần là nhờ những ý kiến tham mưu quan trọng từ Bộ KH&ĐT. Với mục tiêu đưa KH&CN trở thành động lực để phát triển KT- XH, Bộ trưởng Chu Ngọc Anh mong muốn Bộ KH&ĐT sẽ tiếp tục hỗ trợ ở mức cao nhất cho các nhiệm vụ mà Bộ KH&CN được Chính phủ giao phó. Tại buổi làm việc, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh, chưa bao giờ KH&CN được nhắc đến nhiều trong các văn bản của Đảng, Chính phủ như hiện nay. Điều này thể hiện vai trò của KH&CN đối với sự phát triển KH-XH trong giai đoạn tới. Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng bày tỏ quan điểm ủng hộ mạnh mẽ đầu tư cho KH&CN, nhấn mạnh: Cam kết tăng đầu tư thích đáng cho KH&CN nhưng cần tập trung trọng điểm, tạo những sản phẩm công nghệ lõi, những dự án KH&CN trọng điểm quốc gia để làm chủ công nghệ, dẫn dắt và lan tỏa. Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cũng gợi mở: thời gian tới, ngoài những nguồn lực đầu tư cho khoa học đã có sẵn, cần mở rộng các nguồn lực đầu tư khác để tăng cường tiềm lực KH&CN như các công trình trọng điểm quốc gia… Ủng hộ quan điểm đầu tư cho KH&CN có sự chuyển hướng ở giai đoạn mới, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh yếu tố tập trung, trọng điểm để các dự án thể hiện được vai trò kết nối, dẫn dắt công nghệ và phải có đầu ra. Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng và Bộ trưởng Chu Ngọc Anh (từ trái qua) thăm công trình đang xây dựng của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Hàn Quốc tại Khu CNC Hòa Lạc trước buổi làm việc Trước buổi làm việc, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh và Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đã đi thăm dự án xây dựng Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam- Hàn Quốc (VKIST). Mặc dù vẫn trong quá trình xây dựng hạ tầng, nhưng VKIST đã bắt đầu triển khai một số nghiên cứu cụ thể. Theo TS. Kum Dong Hwa, Viện trưởng VKIST, các hoạt động R&D và đổi mới sáng tạo của Viện sẽ gắn chặt với những công nghệ ứng dụng tập trung vào nhu cầu của thị trường và đồng hành với việc kinh doanh của các đối tác. Đặc biệt, hiện nay, con số huy động nguồn lực

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Giới thiệu báo cáo chỉ số GII năm 2020 và kết quả của Việt Nam

\”Trong bộ Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2020, Việt Nam tiếp tục được xem là hình mẫu của các nước đang phát triển khác trong việc thiết lập đổi mới sáng tạo (ĐMST) như là một ưu tiên quốc gia. Việc ban hành Nghị quyết từ năm 2017, sử dụng bộ chỉ số GII như một công cụ đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động ĐMST của quốc gia là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của ĐMST đối với sự phát triển đất nước”. Đó là nhận định của ông Francis Gurry, Tổng Giám đốc Tổ chức Sở hữu trií tuệ Thế giới (WIPO) khi đánh giá về xếp hạng Chỉ số GII của Việt Nam năm 2020. Thông tin được đưa ra tại Hội thảo Giới thiệu báo cáo chỉ số GII năm 2020 và kết quả của Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức chiều ngày 08/9/2020, tại Hà Nội. Toàn cảnh Hội thảo. Hội thảo có sự tham gia trực tuyến của các chuyên gia từ Tổ chức WIPO, Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, WTO và các tổ chức quốc tế và đại diện KH&CN Việt Nam tại Geneva, Thụy Sĩ; đại diện các Bộ, Cơ quan được giao chủ trì chỉ số, các đơn vị thuộc Bộ KH&CN được giao chủ trì chỉ số GII, GCI… Tại Hội thảo, các chuyên gia đã tập huấn, cung cấp những thông tin mới nhất về kết quả Chỉ số GII của Việt Nam năm 2020, các điều chỉnh về phương pháp luận, ý nghĩa của chỉ số và các vấn đề đặt ra. Qua đó giúp các bộ, cơ quan, địa phương hiểu rõ hơn về Chỉ số GII và kết quả của Việt Nam; từ đó tiếp tục xây dựng, triển khai các giải pháp cải thiện chỉ số nhằm đạt mục tiêu như Chính phủ đã đặt ra và phân công cho các bộ, cơ quan, địa phương. Nhiều chỉ số ấn tượng Trong bảng xếp hạng GII 2020, Việt Nam xếp hạng 42/131 quốc gia/nền kinh tế, duy trì thành công thứ hạng đã đạt được năm 2019 – được các chuyên gia WIPO đánh giá là cao hơn so với trình độ phát triển hiện nay của Việt Nam (năm 2019, Việt Nam xếp hạng 42/129 quốc gia/nền kinh tế). Cụ thể, so với năm 2019, chỉ số GII của Việt Nam có nhiều kết quả tích cực. Thứ nhất là cải thiện về Trình độ phát triển của kinh doanh, theo đánh giá của WIPO, năm 2020 hệ thống ĐMST của Việt Nam có kết quả nổi bật về Trình độ phát triển của thị trường, xếp hạng 39, tăng 30 bậc từ vị trí 69 năm 2019. Trong đó, tiến bộ đáng chú ý là về liên kết ĐMST, với kết quả tốt hơn ở chỉ số Hợp tác Viện trường – doanh nghiệp (tăng 10 bậc, từ vị trí 75 lên 65) và chỉ số Quy mô phát triển của cụm công nghiệp (tăng 32 bậc, từ vị trí 74 lên 42). Năng lực Hấp thụ tri thức tăng 13 bậc so với năm 2019, xếp hạng 10 – là thế mạnh của Việt Nam nhờ sự dẫn đầu về Nhập khẩu công nghệ cao (hạng 4) và Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) (hạng 19). Thứ hai là cải thiện về Cơ sở hạ tầng chung, năm 2020, Trụ cột 3. Cơ sở hạ tầng tiếp tục có sự cải thiện tích cực, tăng 09 bậc so với năm 2019. Trong đó, đáng kể nhất là nhóm chỉ số về Hạ tầng ICT – tăng 6 bậc so với 2019 với tiến bộ rõ rệt về Tiếp cận ICT (tăng 4 bậc từ vị trí 90 lên 86) và Sử dụng ICT (tăng 27 bậc, từ vị trí 92 lên 65). Các chỉ số liên quan tới năng lượng trong GII 2020 cũng có sự cải thiện tích cực. Chỉ số Sản lượng điện theo đầu người tiếp tục cải thiện so với 2019, tăng 5 bậc, từ vị trí 81 lên 76. Chỉ số GDP/đơn vị năng lượng sử dụng tăng 7 bậc từ vị trí 92 lên 85. Thứ ba là cải thiện về đầu ra ĐMST, nhóm chỉ số Sáng tạo tri thức và Lan truyền tri thức có cải thiện tích cực so với 2019, trong đó, nhóm chỉ số Lan truyền tri thức xếp hạng 14 được coi là thế mạnh của Việt Nam, nhờ sự dẫn đầu về Xuất khẩu công nghệ cao (hạng 2). Đặc biệt, chỉ số Số công bố bài báo khoa học và kĩ thuật đã tăng 13 bậc so với 2019, từ vị trí 74 lên 61. Trụ cột 7. Sản phẩm sáng tạo tăng 9 bậc so với năm 2019, xếp hạng 38. Có 06 chỉ số ở trụ cột này cải thiện so với 2019 và có thứ hạng cao như Số lượng ứng dụng phần mềm được sản xuất (hạng 10, tăng 3 bậc); chỉ số Đăng kí nhãn hiệu theo xuất xứ (hạng 20, tăng 4 bậc). Chỉ số Sản lượng ngành công nghệ cao và công nghệ trung bình cao tăng 4 bậc, từ 27 lên 23. Đặc biệt, với 33 thương hiệu nằm trong tốp 5000, dẫn đầu là công ty viễn thông Viettel Telecom, Việt Nam xếp hạng thứ 19 ở chỉ số mới được đưa vào sử dụng lần đầu tiên trong GII 2020 – chỉ số Giá trị thương hiệu toàn cầu. Báo cáo của WIPO cho thấy, các nước xếp trên Việt Nam trong GII 2020 đều là các quốc gia/nền kinh tế phát triển, thuộc nhóm thu nhập cao. Trong nhóm 29 quốc gia có thu nhập trung bình thấp được xếp hạng năm

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Việt Nam đề nghị WIPO đánh giá chính sách đổi mới sáng tạo

Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam liên tục tăng, tuy vậy lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng còn những điểm cần điều chỉnh để phù hợp tình hình mới. Chiều 8/9, Bộ Khoa học và Công nghệ và Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới (WIPO) tổ chức hội thảo trực tuyến về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2020 sau công bố xếp hạng mới đây. Năm nay Việt Nam xếp thứ 42 trên 131 quốc gia và nền kinh tế được chuyên gia quốc tế đánh giá là một kỷ lục, ghi nhận sự năng động, có nhiều bước đi sáng tạo, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trong bối cảnh khó khăn chung vì đại dịch. Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Thế Duy cho rằng, các dữ liệu sẽ giúp đánh giá chính sách, đưa ra những thay đổi một cách khoa học, khách quan hơn cùng với góc nhìn của các chuyên gia. Theo ông Duy, việc Việt Nam giữ được thứ 42/131 quốc gia và nền kinh tế là nỗ lực của toàn hệ thống trong việc thực hiện Nghị quyết của Chính phủ. Điểm rõ nhất có thể thấy trong thời gian qua, hàng loạt dự án, Viện nghiên cứu của doanh nghiệp tư nhân, Trung tâm đổi mới sáng tạo được hình thành. Sự thay đổi này được tích hợp và được đánh giá khách quan thông qua chỉ số GII từ năm 2017 đến nay của Việt Nam tăng liên tục, từ vị trí 59 năm 2016 nâng lên 42 trong năm 2019 và 2020. \”Trong bối cảnh khó khăn của năm 2020, khi nền kinh tế các quốc gia đều bị ảnh hưởng bởi Covid-19, Việt Nam nổi lên như một hình mẫu về chống dịch và tích lũy kết quả nghiên cứu đổi mới sáng tạo trong nhiều năm và đưa ra giải pháp về khoa học công nghệ\”, ông Duy nói. Một chỉ số đáng bất ngờ, 6 tháng đầu năm 2020, dù giãn cách vì Covid-19 nhưng số lượng đơn sở hữu trí tuệ, bằng phát minh sáng chế tăng và số bằng được công nhận của Việt Nam cũng tăng hơn so với năm 2019. \”Đây cũng là dấu hiệu tích cực và ngược chiều so với suy thoái do đại dịch\” ông Duy nói và cho biết, trong thành công này ghi nhận WIPO đã vào cuộc quyết liệt, giúp Việt Nam hình thành mạng lưới IP Hub thúc đẩy các sáng chế trong các trường đại học và doanh nghiệp, viện nghiên cứu. So với năm 2019, chỉ số về các sản phẩm sáng tạo tăng 9 bậc; chỉ số hợp tác viện trường, doanh nghiệp tăng 10 bậc; chỉ số Số công bố bài báo khoa học và kĩ thuật tăng 13 bậc; năng lực hấp thụ tri thức tăng 13 bậc. Trong nhóm chỉ số đầu vào tạo thuận lợi cho đổi mới sáng tạo Việt Nam tiếp tục tăng 1 bậc. Thứ trưởng Bùi Thế Duy phát biểu tại sự kiện chiều 8/9 Bà Lê Thị Tuyết Mai, Đại sứ Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva (Thụy Sỹ) cho biết, việc Việt Nam xếp thứ 42 trong bảng xếp hạng được quốc tế đánh giá rất cao trong bối cảnh khó khăn toàn cầu. Bà Mai dẫn đánh giá của các chuyên gia WIPO, Việt Nam cùng Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines là bốn quốc gia có sự tiến bộ đáng kể trong bảng xếp hạng GII qua các năm gần đây, hiện nay đều đã nằm trong nhóm 50 quốc gia dẫn đầu. Việt Nam đang tịnh tiến đến nhóm 40 quốc gia dẫn đầu về chỉ số này với đa số là các quốc gia thu nhập cao. \”Đây là kết quả đáng tự hào nhưng cũng đầy thách thức trong bối cảnh khó khăn chung của đại dịch để có thể duy trì chỉ số đổi mới sáng tạo\”, bà Mai nói. Ông Sacha Wunsch – Vincen, Chuyên gia cao cấp của WIPO, tác giả báo cáo GII 2020 cho rằng, nhìn tổng quan các trụ cột sẽ thấy Việt Nam tích hợp được các điểm tương đồng cần thúc đẩy trong đầu tư cho nhân lực, chi phí vào R&D, xuất khẩu công nghệ cao… Cùng với đó, trình độ phát triển của doanh nghiệp có sự gia tăng vượt bậc góp phần quan trọng vào việc nâng hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam. Ông Sacha Wunsch chia sẻ thông tin trực tuyến chiều 8/9. Ảnh chụp màn hình. Để có thể duy trì và tiếp tục nâng hạng, ông Sacha Wunsch cho rằng, Việt Nam cần xác định đâu là nút thắt nghẽn để các doanh nghiệp tư nhân có thể tăng đầu tư cho nghiên cứu và gia tăng hoạt động sáng tạo của họ. Hợp tác giữa trường – viện nghiên cứu, phát triển các cụm nghiên cứu… cũng là yếu tố quan trọng để phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. \”Cần chi tiêu nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo, R&D của doanh nghiệp\”, ông Sacha Wunsch nói. Thứ trưởng Bùi Thế Duy đề nghị các bộ, ngành thời gian tới liên tục lưu trữ, cập nhật dữ liệu để phục vụ cho việc điều hành của Chính phủ và các bộ ngành. Làm sao để chính sách theo kịp, thúc đẩy đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo và tích hợp được các kết quả nghiên cứu, phát triển của doanh nghiệp vào chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Ông đề xuất các chuyên gia WIPO giai đoạn tới cùng với Việt Nam

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2020-2025

Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, thực hiện Kế hoạch số 155-KH/ĐUK và Hướng dẫn số 14-HD/ĐUK của Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương về một số nội dung Đại hội đảng bộ các cấp trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương, Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ KH&CN lần thứ XXIII nhiệm kỳ 2020-2025 trong 02 ngày 27 và 28/8/2020, tại Hà Nội. Quang cảnh Đại hội Tới dự Đại hội có đồng chí Sơn Minh Thắng, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương; đồng chí Trương Xuân Cừ, Phó Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương cùng các đồng chí đại diện các ban của Đảng ủy Khối; các đồng chí đại diện Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam; Đại học Quốc gia Hà Nội, Cục An ninh kinh tế… Về phía Bộ KH&CN, có đồng chí Chu Ngọc Anh, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng, Bộ trưởng, đồng chí Trần Văn Tùng, Thứ trưởng, Bí thư Đảng uỷ Bộ, các đồng chí Uỷ viên Ban cán sự Đảng, các đồng chí trong Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng ủy Bộ nhiệm kỳ 2015-2020; Các đồng chí nguyên là lãnh đạo Bộ, lãnh đạo Đảng ủy Bộ KH&CN qua các thời kỳ và 213 đại biểu chính thức đại diện cho 1941 đảng viên đến từ 49 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Đảng bộ Bộ KH&CN. Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong triển khai nhiệm vụ Đồng chí Trần Văn Tùng, Phó Bí thư Ban cán sự, Bí thư Đảng ủy Bộ KH&CN, Thứ trưởng Bộ KH&CN phát biểu khai mạc Đại hội. Sau phần phát biểu khai mạc của Bí thư Đảng ủy, Thứ trưởng Trần Văn Tùng, Thứ trưởng Lê Xuân Định đã báo cáo hoạt động giai đoạn 2015-2020. Điểm đặc biệt ở nhiệm kỳ này là Chính phủ đã bổ sung chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động đổi mới sáng tạo cho Bộ Khoa học và Công nghệ. Đồng chí Lê Xuân Định, Ủy viên Ban cán sự, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ KH&CN, Thứ trưởng Bộ KH&CN trình bày Báo cáo chính trị của Đảng bộ Bộ KH&CN nhiệm kỳ 2015 – 2020 tại Đại hội. Thứ trưởng Lê Xuân Định cho biết, giai đoạn 2015-2020, Bộ KH&CN có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội. Năng suất lao động được nâng lên thể hiện qua chỉ số năng suất các yếu tố tổng hợp TFP (tăng từ 33,6% giai đoạn 2011-2015 lên 44,46% giai đoạn 2016-2019), tỉ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 50% năm 2020. Tiềm lực nghiên cứu và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao thông qua số lượng các bài báo khoa học, công trình công bố quốc tế tăng trưởng nhanh, trung bình trên 20%/năm. Hiện, cả nước có gần 67.000 cán bộ nghiên cứu và phát triển quy đổi tương đương toàn thời gian – TFP (đạt 7 người/vạn dân). Hiện, Đề án Hệ Tri thức Việt số hóa được triển khai để hình thành cơ sở dữ liệu số của người Việt. Có 3 khu công nghệ cao quốc gia là Hòa Lạc, TPHCM và Đà Nẵng đã thu hút hàng trăm dự án đầu tư với số vốn hàng chục tỷ USD. Nguồn lực tài chính từ xã hội và doanh nghiệp cho KH&CN tăng, thể hiện qua tỉ trọng đầu tư giữa Nhà nước và doanh nghiệp là (52/48) so với tỉ lệ 70/30 của hơn 5 năm trước. Vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo ngày càng trở nên quan trọng. Thị trường công nghệ được thúc đẩy phát triển, cả nước có 15 sàn giao dịch công nghệ, 50 vườn ươm công nghệ, 186 tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp và mạng lưới các trung tâm ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KH&CN trên toàn quốc. Những đóng góp của KH&CN còn thể hiện qua chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tục tăng. Năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng 2 bậc, năm 2019 tăng tiếp 3 bậc, xếp thứ 42 trên 129 quốc gia, đưa Việt Nam vươn lên dẫn đầu nhóm 26 quốc gia thu nhập trung bình thấp và đứng thứ 3 ASEAN. Nhiệm kỳ 2015-2020, được sự quan tâm, lãnh đạo sâu sát của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, sự hướng dẫn kịp thời, trách nhiệm của các Ban chuyên môn thuộc Đảng ủy Khối, Đảng ủy Bộ KH&CN đã phối hợp chặt chẽ với Ban cán sự đảng lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức đảng, các vụ, đơn vị phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, khắc phục mọi khó khăn để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị; công tác xây dựng Đảng, chính quyền; hoàn thành các chỉ tiêu theo nghị quyết Đại hội đã đề ra. Trong thời gian qua, Đảng bộ Bộ KH&CN luôn chú trọng chỉ đạo thực hiện có hiệu quả và coi công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng. Để thực hiện hiệu quả công tác này, Đảng ủy Bộ KH&CN đã tổ chức có hiệu quả việc học tập, phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện các nghị

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Bộ KH&CN luôn chia sẻ, đồng hành cùng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã khẳng định như trên tại buổi tổng kết Chương trình hợp tác giữa Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Học viện) giai đoạn 2015 – 2020 và nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Chương trình hợp tác giai đoạn 2021 – 2026 vừa diễn ra chiều ngày 21/8 tại Học viện, Hà Nội. Toàn cảnh buổi làm việc. Tham dự chủ trì buổi làm việc có đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương; đồng chí Chu Ngọc Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ KH&CN. Về phía Bộ KH&CN còn có đồng chí Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ KH&CN, đồng chí Nguyễn Hoàng Giang, Thứ trưởng Bộ KH&CN và đại diện lãnh đạo các đơn vị liên quan thuộc Bộ KH&CN. Nhiều kết quả nghiên cứu phục vụ Văn kiện Đại hội XIII Tại buổi làm việc, PGS.TS Lê Văn Lợi, Phó Giám đốc Học viện cho biết: ngày 30/12/2014, Học viện đã ký Chương trình hợp tác giai đoạn 2015 – 2020 với Bộ KH&CN. Trên cơ sở Chương trình hợp tác được ký kết, việc hợp tác giữa hai bên từ năm 2015 đến nay tập trung vào một số lĩnh vực: Nghiên cứu, tham mưu, đề xuất xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm thực hiện quan điểm KH&CN là quốc sách hàng đầu. Tham gia ý kiến thẩm định các đề án, dự án được phân công trước khi trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Nghiên cứu phục vụ đổi mới nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và của hệ thống chính trị;… Giai đoạn 2015-2020, một số nhiệm vụ khoa học trọng điểm đã được triển khai như: Đề án giai đoạn 2015-2016 “Hợp tác nghiên cứu, phổ biến tư tưởng Hồ Chí Minh giữa Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với Viện Hồ Chí Minh của Trường Đại học Tổng hợp Xanh – Petecbua, Liên bang Nga”; Đề án khoa học cấp Bộ trọng điểm giai đoạn 2016-2017 “Nghiên cứu các luận cứ khoa học để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở nước ta”; Đề án khoa học cấp Bộ trọng điểm giai đoạn 2017-2018 “Những giải pháp đột phá nhằm thực hiện sáu nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng”; Chương trình KH&CN trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020 “Nghiên cứu tổng kết, đề xuất bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin – Cấu phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới”; Chương trình khoa học cấp Bộ trọng điểm giai đoạn 2019-2020 “Nghiên cứu đề xuất định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học nghệ thuật”. Các nghiên cứu do Bộ KH&CN và Học viện thống nhất triển khai đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học có giá trị tham khảo cao, phục vụ trực tiếp cho công tác hoạch định chủ trương, chính sách nói chung, chủ trương, chính sách về phát triển KH&CN của Đảng và Nhà nước.  Đồng thời, đóng góp nhiều cho việc đổi mới nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và của hệ thống chính trị. Ngoài ra, nhờ có Chương trình phối hợp nêu trên, lần đầu tiên Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã được giao chủ trì tổ chức triển khai thực hiện một chương trình nghiên cứu KH&CN cấp quốc gia KX02. Các kết quả nghiên cứu hướng đến phục vụ việc biên soạn Văn kiện Đại hội XIII của Đảng gồm hai báo cáo kiến nghị như: Một số vấn đề về sở hữu và thành phần kinh tế ở nước ta;Về đổi mới nhận thức và tổ chức thực tiễn nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Đồng quan điểm trên, Phó Bí thư Đảng ủy Học viện, GS.TS Trần Văn Phòng khẳng định: sự hợp tác của hai bên đã góp phần rất lớn trong việc hoàn thành chuẩn quốc gia cho cả hệ thống của Học viện, đặc biệt là việc cập nhật những kiến thức cơ bản cũng như năng lực nghiên cứu của Học viên đã được cải thiện, nâng cao rõ rệt trong thời gian qua. Tuy nhiên, cũng theo Phó Giám đốc Học viện Lê Văn Lợi, sự phối hợp của mỗi bên trong xác định các nhiệm vụ hợp tác từng năm và xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện chưa được thường xuyên. Một số nội dung của Chương trình triển khai chưa thực hiện hiệu quả, sâu rộng qua một số hoạt động như: trao đổi, tham vấn, tổ chức tọa đàm, hội thảo về các nội dung thuộc lĩnh vực KH&CN; mời cán bộ Học viện tham gia nghiên cứu, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, khảo sát; Hỗ trợ Học viện mở rộng hợp tác quốc tế;… Phát triển bền vững dựa trên nền tảng KHCN & ĐMST Tại buổi làm việc, ngoài những chia sẻ kinh nghiệm, đề xuất tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai, trên cơ sở những

Lên đầu trang