Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ

Tin tức, sự kiện

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Sáng tạo không phải là độc quyền của người trẻ

Nếu tin rằng các nhà khoa học xuất sắc đều đạt tới trạng thái sáng tạo nhất khi họ còn trẻ thì bạn đã nhầm lẫn. Một nghiên cứu mới về những người thắng giải Nobel trong kinh tế đã cho thấy có hai vòng đời sáng tạo khác nhau, một là do một số người ở giai đoạn đầu sự nghiệp và một là do những người trong giai đoạn sau của sự nghiệp. Hai nhà kinh tế đoạt giải Nobel 2018 William Nordhaus và Paul Romer. Nguồn: Nobal Prize Ở nghiên cứu này, một giai đoạn đỉnh cao trong nghiên cứu của những nhà khoa học đoạt giải là vào những năm ngoài 20 tuổi và đỉnh khác là giai đoạn những năm ngoài 50 tuổi. Nghiên cứu này cũng ủng hộ phát hiện của các nghiên cứu của trước, vốn tìm thấy những mẫu hình tương tự trong nghệ thuật và các ngành khoa học khác, ví dụ nghiên cứu của giáo sư kinh tế Bruce Weinberg (trường đại học Ohio) và Benjamin Jones (trường đại học Northwestern) trên PNAS năm 2011 khi phân tích dữ liệu về 525 giải Nobel được trao từ năm 1901 đến năm 2008 trong ba lĩnh vực – 182 trong vật lý, 153 trong hóa học và 190 trong y sinh để xác định thời kỳ các nhà khoa học thực hiện các công trình giúp họ đoạt giải. “Chúng tôi tin rằng những gì mình tìm thấy trong nghiên cứu này không chỉ giới hạn với kinh tế mà còn có thể ứng dụng vào những ngành nghiên cứu khác”, Bruce Weinberg – tác giả chính của nghiên cứu cho biết. “Nhiều người vẫn tin tưởng rằng sáng tạo là ‘độc quyền” của giới trẻ nhưng thực tế là nó còn gắn với từng loại sáng tạo nữa”. Ông đã thực hiện nghiên cứu này cùng với giáo sư kinh tế David Galenson (trường đại học Chicago) và xuất bản trên tạp chí De Economist. Trong nghiên cứu, họ đã chỉ ra, những người thắng giải Nobel và là tác giả của những công trình nghiên cứu đặt nền tảng cho đột phá ở giai đoạn đầu trong sự nghiệp nghiên cứu có xu hướng thành những người đổi mới sáng tạo về nhận thức. Kiểu các nhà sáng tạo “vượt ngoài khuôn khổ truyền thống” (think outside the box) thách thức sự từng trải, hiểu biết thông thường và có xu hướng đón nhận những ý tưởng đến một cách đột ngột. Các nhà đổi mới trong nhận thức hay “tóm” được nó trong giai đoạn đầu sự nghiệp, trước khi họ “thuộc lòng” các lý thuyết đã được chấp nhận rộng rãi trong lĩnh vực này, Weinberg nói. Nhưng vẫn còn một dạng khác của sáng tạo, ông cho biết, vốn được hình thành trong những nhà đổi mới “dựa trên kinh nghiệm”. Đó là những người tích lũy được hiểu biết thông qua quá trình nghiên cứu và tìm thấy các cách mang tính đột phá để phân tích, giải thích và tổng hợp để đem lại những cách hiểu mới. Những đổi mới sáng tạo mang tính thực nghiệm này cần các quá trình thử và sai lâu dài, vì thế chung có xu hướng xuất hiện vào giai đoạn cuối sự nghiệp của một nhà khoa học đoạt giải Nobel. “Việc anh có được sự sáng tạo trong giai đoạn đầu hay cuối của sự nghiệp phụ thuộc vào việc anh có cách tiếp cận về ý tưởng hay thực nghiệm”, Weinberg nhận xét. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một cách tiếp cận kinh nghiệm mới cho nghiên cứu này. Với 31 nhà khoa học đoạt giải Nobel về kinh tế, họ đã sắp xếp vào một danh sách, từ những người thuộc “phe kinh nghiệm” và “phe ý tưởng”, dựa trên các đặc điểm công trình của những nhà khoa học đoạt giải.  Ví dụ, các nhà kinh tế thuộc “phe ý tưởng” có xu hướng sử dụng các giả định, bằng chứng và phương trình và phần phụ lục toán học trong bài báo của họ, còn các nhà kinh tế thuộc “phe kinh nghiệm” chỉ phụ thuộc vào các kết luận trực tiếp từ thực tế, vì vậy các công trình của họ có xu hướng liên quan đến các mục đặc biệt như nơi chốn, thời kỳ, các ngành công nghiệp hay hàng hóa. Sau khi phân loại các nhà khoa học đoạt giải, hai nhà nghiên cứu xác định tuổi tác vào thời điểm họ làm ra các công trình nghiên cứu quan trọng nhất và có thể được coi là đỉnh cao sáng tạo của họ. Họ đã làm được điều này thông qua việc áp dụng một quy ước về việc các nhà nghiên cứu đánh giá giá trị và tầm ảnh hưởng của một công trình nghiên cứu. Một bài báo được coi là nhiều ảnh hưởng trong lĩnh vực của nó khi được nhiều nhà khoa học khác thảo luận hoặc trích dẫn bài báo trong công trình của mình. Vì vậy có nhiều trích dẫn hơn thì bài báo có nhiều ảnh hưởng hơn. Weinberg và Galenson sử dụng hi phương pháp để tính toán ở độ tuổi nào những người đoạt giải Nobel được trích dẫn thường xuyên nhất và thời điểm nào và do đó là đỉnh cao sáng tạo của họ. Hai phương pháp này tìm thấy thời điểm các nhà nghiên cứu thuộc “phe ý tưởng” đạt tới đỉnh cao là 25 hoặc 29 tuổi còn những nhà nghiên cứu thuộc “phe kinh nghiệm” là tầm 57 tuổi hoặc trong quãng 50 tuổi. Phần lớn các nghiên cứu khác trong lĩnh vực này đều tìm hiểu những khác biệt trong các độ tuổi đạt tới đỉnh cao sáng tạo giữa các lĩnh vực như vật lý với y học. Những nghiên cứu này về tổng thể đều tìm thấy những khác

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Hoạt động học tập thực tế của Lớp Bồi dưỡng Lãnh đạo, quản lý cấp vụ và tương đương Bộ KH&CN tại Thanh Hóa

Ngày 10/5/2019, lớp Bồi dưỡng Lãnh đạo, quản lý cấp vụ và tương đương của Bộ KH&CN (khai giảng ngày 19/3/2019) do Học viện Hành chính Quốc gia và Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo phối hợp tổ chức đã thực hiện chuyến học tập thực tế tại Thanh Hóa. Tham dự buổi học tập thực tế của Lớp tại Thanh Hóa có TS. Nguyễn Xuân Phi – Bí thư thành uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Thanh Hoá; Ông Đỗ Việt Trung – Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Khoa học và Công nghệ; TS. Nguyễn Ngọc Tuý – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Thanh Hoá cùng toàn thể các học viên lớp học. Tại buổi học tập thực tế tại địa phương, các học viên của lớp đã được TS. Nguyễn Xuân Phi – Bí thư thành uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Thanh Hoá chia sẻ nhiều thông tin về các kết quả nghiên cứu và đề xuất phát triển Thanh Hóa theo hướng đô thị thông minh, xanh và phát triển. TS. Nguyễn Ngọc Tuý – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Thanh Hoá trao đổi về tình hình phát triển KH&CN của tỉnh Thanh Hóa, nhấn mạnh những đóng góp của KH&CN vào phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Các thành viên lớp học đã thảo luận sôi nổi xoay quanh các lĩnh vực quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giúp Sở KH&CN Thanh Hóa có thêm thông tin để phối hợp công việc trong thời gian tới. Sau khi trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm tại Hội trường, toàn thể lớp và đoàn công tác đã thăm trực tiếp Nhà máy gạch ốp lát cao cấp Vicenza – doanh nghiệp đã áp dụng công nghệ mới vào sản xuất giúp cải thiện đáng kể kết quả hoạt động. Tiếp đó, đoàn đến thăm khu triển lãm “Thanh Hoá xưa và nay” để thấy rõ quá sự phát triển kinh tế tại tỉnh Thanh Hoá và đặc biệt kết quả áp dụng khoa học và công nghệ vào phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong thời gian qua và định hướng trong thời gian tới. Chuyến học tập thực tế tại Thanh Hóa đã giúp các học viên là Lãnh đạo các Tổng Cục, Cục, Vụ, Viện thuộc Bộ KHCN nắm rõ thực tế quản lý KH&CN tại địa phương để có thể vận dụng các bài học và kinh nghiệm từ các giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia vào thực tế hoạt động công tác sau khóa học./. Nguồn Visti

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Trí tuệ nhân tạo chuyển tín hiệu não thành lời nói

Trong tương lai, công nghệ này có thể giúp người câm điếc giao tiếp dễ dàng hơn. Một thuật toán học sâu được đưa vào bộ giải mã để biến đổi tín hiệu não thành các chuyển động ước tính của hệ thống cấu âm. Nguồn: NatureTrong nỗ lực mang lại giọng nói cho những người không thể nói được, các nhà thần kinh học đã thiết kế một thiết bị có thể biến đổi tín hiệu não thành lời nói. Dù công nghệ này hiện có thể tạo ra các câu nói tương đối dễ hiểu song vẫn chưa đủ chính xác để có thể sử dụng rộng rãi. Các nhà sáng chế đã mô tả thiết bị giải mã lời nói của họ trong một nghiên cứu được xuất bản vào ngày 24/4/2019 trên tạp chí Nature. Trước đây, các nhà khoa học đã dùng trí thông minh nhân tạo để “dịch” các từ một âm tiết từ hoạt động của não, theo Chethan Pandarinath, một nhà thần kinh học tại Đại học Emory ở Atlanta, Georgia. “Việc nâng cao hiệu suất chuyển đổi từ các từ đơn âm tiết thành câu nói là một bước nhảy vọt về kỹ thuật và khiến phát hiện mới này trở nên ấn tượng”, anh nói. Với công nghệ hiện hành, người mất khả năng nói phải thực hiện các chuyển động nhỏ để điều khiển một con trỏ chọn các chữ cái hoặc từ trên màn hình. Ví dụ nhà vật lý người Anh Stephen Hawking, người mắc ALS, đã sử dụng một thiết bị tạo giọng nói được điều khiển bằng cơ má. Các thiết bị này chuyển đổi ngôn ngữ rất chậm bởi những người sử dụng phải gõ từng chữ một, khoảng mười từ mỗi phút trong khi lời nói tự nhiên trung bình là 150 từ mỗi phút, Edward Chang, bác sĩ phẫu thuật thần kinh tại Đại học California, San Francisco và là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết. Vì vậy, Chang và nhóm nghiên cứu của anh đã quyết định mô hình hóa hệ thống cấu âm khi xây dựng bộ giải mã của họ. Theo dõi năm người được cấy điện cực trên bề mặt não, họ đã ghi lại hoạt động não khi họ đọc to hàng trăm câu, sau đó kết hợp các bản ghi này với dữ liệu xác định xem chuyển động của lưỡi, môi, hàm và thanh quản tạo ra âm thanh như thế nào. Với các dữ liệu này, nhóm nghiên cứu đã “huấn luyện” một thuật toán học sâu và đưa nó vào bộ giải mã biến đổi tín hiệu não thành các chuyển động ước tính của hệ thống cấu âm, tổng hợp những chuyển động này thành lời nói. Những người nghe thử 101 câu tổng hợp có thể hiểu trung bình 70% số từ, Chang nói. Trong một thí nghiệm khác, các nhà nghiên cứu yêu cầu một người tham gia đọc không thành lời các câu (di chuyển miệng mà không tạo ra âm thanh). Các câu được tổng hợp từ bài kiểm tra này có chất lượng thấp hơn so với những câu được tạo ra từ lời nói có thể nghe được nhưng kết quả vẫn rất đáng khích lệ. Bằng cách ánh xạ hoạt động của não thành các chuyển động của hệ thống cấu âm và tổng hợp các chuyển động thành âm thanh, tiếng nói được tạo ra dễ hiểu hơn so với tiếng nói tạo ra bằng cách ánh xạ hoạt động của não trực tiếp thành âm thanh, Stephanie Riès, nhà thần kinh học tại Đại học bang San Diego, California, nói. Nhưng không rõ bộ giải mã lời nói mới có hoạt động tốt nếu mọi người chỉ nghĩ mà không nói ra thành lời hay không, Amy Orsborn, một kỹ sư thần kinh tại Đại học Washington ở Seattle, nghi vấn. “Nghiên cứu cho thấy, bộ giải mã vẫn hoạt động khi người dùng chuyển động miệng mà không tạo ra âm thanh. Tuy nhiên bộ giải mã có làm việc không nếu người dùng không thể di chuyển miệng của họ?”, cô nêu tình huống. Marc Slutzky, một nhà thần kinh học tại Đại học Tây Bắc ở Chicago, Illinois, đồng ý với ý kiến này và cho rằng, bộ giải mã còn nhiều điểm cần cải thiện. Ông lưu ý, trong các thử nghiệm, người nghe thử đã “nghe” lời nói tổng hợp bằng cách chọn ra các từ trong một loạt các lựa chọn; và khi số lượng lựa chọn tăng lên, mọi người gặp khó khăn hơn trong việc hiểu lời nói của bộ giải mã. Nghiên cứu này “là một bước thực sự quan trọng, nhưng vẫn còn một chặng đường dài trước khi lời nói tổng hợp bằng bộ giải mã trở nên dễ hiểu hơn”, Slutzky đánh giá.□ Hoàng Nam dịch Nguồn Tia sáng – Ấn phẩm báo Khoa học và Phát triển

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Chính sách năng lượng: Cần tầm nhìn dài hạn và khoa học

Để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc và giảm thiểu sự ấm lên toàn cầu, cần có những chính sách năng lượng dài hạn và bền vững. Nhà máy điện hạt nhân Novovoronezh đặt tại Voronezh Oblast, Nga. Nguồn: Rosatom. Xây dựng chính sách năng lượng dài hạn và minh bạch Ở bất cứ quốc gia nào, việc xây dựng và thực thi chính sách năng lượng cũng cần tầm nhìn và minh bạch, đặc biệt với Nhật Bản, quốc gia phải hứng chịu tai nạn nhà máy điện Fukushima 2011 và là tấm gương phản chiếu rõ nét tác động của chính sách năng lượng. Sự kiện Fukushima đã tác động trực tiếp đến chính sách năng lượng Nhật Bản, khiến chính phủ nước này quyết định đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân và thay thế nguồn cung bằng điện từ nhiệt điện, khí thiên nhiên hóa lỏng (nhập khẩu nhiên liệu 90%), năng lượng tái tạo… Như vậy trong khi căng sức đưa đất nước phục hồi sau thảm họa, các ngành công nghiệp còn bị chất thêm gánh nặng giá điện tăng. Để giải quyết tình huống này, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định vận hành trở lại 5 lò phản ứng năng lượng từ cuối năm 2018. Đây là bước khởi đầu chuẩn bị cho việc thực thi Kế hoạch năng lượng chiến lược lần thứ 5 tầm nhìn 2030 và đến 2050, một chính sách năng lượng dài hạn hướng đến một cấu trúc cung cầu năng lượng đa lớp, đa dạng và linh hoạt, tránh sự phụ thuộc quá nhiều vào một loại hình năng lượng và có thể tận dụng thế mạnh của các nguồn năng lượng khác nhau. Mới đây, Tổ chức doanh nghiệp Nhật Bản (Keidanren) đã kêu gọi minh bạch hóa chính sách năng lượng, hỗ trợ sự phát triển dài hạn của lĩnh vực sản xuất hiện nhằm đáp ứng những thay đổi xã hội đầy ý nghĩa. Với báo cáo “Tái xây dựng hệ thống điện hỗ trợ Nhật Bản” (Rebuild The Power System That Supports Japan), Keidanren nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chính sách năng lượng của đất nước nghèo tài nguyên này. Năng lượng là “trục chính của nền kinh tế đất nước” và vì vậy việc thảo luận về tương lai năng lượng của đất nước cần phải được công khai trên cơ sở tầm nhìn dài hạn, khoa học và mô hình hóa. Báo cáo cũng nêu rõ, “điện hạt nhân là nguồn năng lượng thiết yếu cho Nhật Bản cũng như thế giới”, vì thế một tương lai không chắc chắn có thể dẫn đến sự mất mát năng lực công nghệ cũng như nguồn nhân lực hạt nhân. Đây là tài sản đáng giá của một quốc gia khan hiếm tài nguyên khi theo đuổi các mục tiêu trong chính sách năng lượng. Trong tình trạng hiện tại, thật thách thức để có thể giữ được những điều tiên quyết của chính sách năng lượng – đảm bảo vấn đề an ninh năng lượng, hợp lý về giá cả và ít phát thải. Nhật Bản đang chờ đợi để góp phần vào chương trình Society 5.0 – một kế hoạch chuyển đổi xã hội lớn của quốc gia này nhằm giải quyết các vấn đề xã hội như dân số sụt giảm và già hóa, hỗ trợ số hóa… bằng những công nghệ tiên tiến. Do điều kiện địa lý, sự phân bố dân cư và khu công nghiệp mà trong tương lai, có thể Nhật Bản phải phân cấp quản lý theo vùng. Để đem lại thành công cho việc quy hoạch đất nước, cần phải chuẩn bị cho cả kế hoạch năng lượng. Vì những nguyên nhân đó, Keidanren đã kêu gọi chính phủ minh bạch hóa chính sách năng lượng để các doanh nghiệp có thể thiết lập một chiến lược đầu tư “tương xứng và hợp lý”. Năng lượng hạt nhân trong chính sách năng lượng Dưới góc nhìn của nhiều người, năng lượng hạt nhân có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng dưới góc nhìn của các nhà khoa học, đây lại là một giải pháp quan trọng cho môi trường toàn cầu. Năm 2013, một nhóm bốn nhà khoa học khí hậu gồm TS. Ken Caldeira (Phòng Sinh thái học toàn cầu, Viện Carnegie), TS. Kerry Emanuel (Viện Công nghệ Massachusetts), TS. James Hansen (Viện Trái đất, trường đại học Columbia) và TS. Tom Wigley (trường đại học Adelaide và Trung tâm nghiên cứu khí quyển quốc gia Úc) đã gửi thư ngỏ nhằm thuyết phục “những ai có ảnh hưởng đến chính sách môi trường nhưng đối đầu với điện hạt nhân” thay đổi quan điểm để “ủng hộ sự phát triển và triển khai các hệ thống năng lượng hạt nhân an toàn hơn”. Dù biết việc công khai quan điểm sẽ “trao uy tín của mình cho các nhà hoạt động môi trường ‘siêu xanh’ công kích, coi như tội bội tín” – lời nhận xét của nhà vật lý đoạt giải Nobel Burton Richter và là người chỉ trích thủ tướng Đức Angela Merkel về sai lầm trong chính sách năng lượng khiến Đức trở thành quốc gia phát thải khí nhà kính cao nhất EU – bốn nhà khoa học này vẫn dũng cảm nhận định, vấn đề của năng lượng tái tạo là “sự gia tăng về quy mô không đủ nhanh để đạt tới mức giá rẻ và thực tế trước những yêu cầu của nền kinh tế toàn cầu đang tăng trưởng” và đề xuất “những quyết định về hệ thống năng lượng cần được đặt trên cơ sở của sự thật chứ không phải dựa vào cảm tính và thiên kiến”. Họ cho rằng, dù các nhà máy điện hạt nhân ngày nay chưa thực sự hoàn hảo nhưng hệ thống an toàn

Đào tạo bồi dưỡng, Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Thông báo về kế hoạch bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành KH&CN năm 2019

KẾ HOẠCH BỒI DƯỠNG THEO TIÊU CHUẨN CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP VIÊN CHỨC CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂM 2019 Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo thông báo kế hoạch tổ chức các lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ năm 2019 với thời gian và địa điểm tổ chức như sau: TT Chương trình bồi dưỡng Thời gian dự kiến theo lớp Địa điểm 1 Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh công nghệ: Kỹ sư (Hạng III) Từ 14/5/2019 đến 24/6/2019 Hà Nội Từ 21/5/2019 đến  1/7/2019 Hà Nội Từ 28/5/2019 đến  8/7/2019 TP. HCM Từ 29/5/2019 đến  9/7/2019 TP. HCM 2 Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh công nghệ: Kỹ sư chính (Hạng II) Từ 11/6/2019 đến  15/7/2019 Hà Nội 3 Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh công nghệ: Kỹ sư cao cấp (Hạng I) Từ 13/8/2019 đến  23/9/2019 Hà Nội 4 Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu viên (Hạng III) Từ 4/6/2019 đến 8/7/2019 Hà Nội Từ 9/7/2019 đến 17/7/2019 TP. HCM 5 Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu viên chính (Hạng II) Từ 18/6/2019 đến 22/7/2019 Hà Nội Từ 25/6/2019 đến  29/7/2019 Hà Nội Từ 10/7/2019 đến 18/8/2019 TP. HCM 6 Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu viên cao cấp (Hạng I) Từ 13/8/2019 đến 23/9/2019 Hà Nội (*) Ghi chú: Căn cứ công văn của các đơn vị đăng ký tham dự các chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ và đăng ký của các cá nhân, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo sẽ gửi văn bản triệu tập các học viên tham dự từng khóa học trước ngày khai giảng 02 tuần. Đối với các lớp học dự kiến tổ chức tại các tỉnh, thành phố khác, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo sẽ căn cứ kế hoạch chung, trao đổi và thống nhất với các đơn vị về thời gian, địa điểm. Thông tin chi tiết xin liên hệ: Ban Quản lý Khoa học & Đào tạo, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Địa chỉ số 38 Ngô Quyền Hoàn Kiếm, Hà Nội Số điện thoại liên hệ 024 39342638 Email: bqlkhdt@most.gov.vn   Nguồn: Visti

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước với việc bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ hiện nay

(TG) – Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, từ đó thấy được công tác bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ, giúp họ hăng hái, thi đua trong học tập, lao động sản xuất, không ngừng rèn luyện, phấn đấu, xứng đáng là những “chủ nhân tương lai của đất nước”, góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là việc làm có tính cấp thiết và quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Với chủ đề :“Thanh niên tình nguyện vì cộng đồng”, Tháng Thanh niên năm 2019 tập trung tổ chức tuyên truyền về truyền thống của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Ảnh minh họa. Nguồn: Internet Nhìn lại chặng đường 71 năm qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi Thi đua ái quốc” (11-6-1948 _ 11-6-2019), có thể khẳng định: Mọi thành quả của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay đều gắn liền với việc quán triệt và tổ chức có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước. 1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THI ĐUA YÊU NƯỚC Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Thi đua yêu nước” bao hàm đầy đủ, toàn diện các khía cạnh, từ mục đích, nội dung, cách thức, lực lượng cho đến ý nghĩa của thi đua. Còn nhiều người, mà trước hết là cán bộ, chưa thật hiểu rõ ý nghĩa của phong trào thi đua ái quốc, tưởng lầm thi đua ái quốc là một việc khác với những công việc hàng ngày; tưởng lầm thi đua ái quốc chỉ nhất thời (thay vì phải trường kỳ); thậm chí có người còn ỷ thế, cạy quyền, hách dịch, tham nhũng, lãng phí… Về mục đích của thi đua yêu nước, theo Hồ Chí Minh, đó chính là khơi dậy, phát huy được tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, làm cho mọi người đều hăng hái, tích cực, sáng tạo, ngày càng làm được nhiều điều tốt hơn trong xã hội. Đối với nông dân, thì thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm; đối với công nhân thì thi đua lao động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm thì giờ; đối với quân đội, thì thi đua đánh giặc lập công,… Như vậy, đời sống của nhân dân sẽ ngày càng đầy đủ, no ấm, đất nước sẽ ngày càng giàu lên, quân đội sẽ ngày càng vững mạnh và sẽ hoàn thành được mục tiêu của cách mạng đề ra. Tháng Thanh niên năm 2019 là đợt hoạt động thực hiện chủ đề “Năm Thanh niên tình nguyện”, kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh … Hồ Chí Minh luôn tin tưởng vào nguồn lực nội sinh, nguồn sức mạnh vô song của dân tộc và cho rằng, nếu động viên, khơi dậy được nguồn lực vô tận ấy thì mọi việc, dù có khó khăn đến mấy cũng sẽ hoàn thành. Bởi vậy, trong những giờ phút khi mà cuộc chiến tranh chống thực dân xâm lược còn trong giai đoạn gian khó, ác liệt nhất, Người vẫn luôn tin tưởng: “Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi”(1). Về nội dung của thi đua yêu nước, theo Hồ Chí Minh, đối với hậu phương: Cần đẩy mạnh tăng gia sản xuất, mở mang doanh nghiệp, thi đua học tập, sáng tác, phát minh, thực hành tiết kiệm và tận dụng thời gian, đẩy nhanh tiến độ, để tăng năng suất, hiệu quả,… Làm được như vậy, sẽ vừa tiết kiệm được nhân công, nguyên, vật liệu, thời gian,…; đồng thời lai tạo ra được nhiều của cải vật chất, tạo thêm nhiều nguồn lực cho xã hội phát triển nhanh hơn, bền vững hơn. Đối với tiền tuyến, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng công tác huấn luyện giỏi, tiêu diệt địch; khắc phục khó khăn, chấp hành nghiêm mệnh lệnh, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ; có ý thức quý trọng chiến lợi phẩm, quân trang, tiết kiệm vũ khí, trang bị,… Người cũng lưu ý, trong thi đua thì tùy theo từng đối tượng, ngành nghề, lĩnh vực,… mà xác định những nội dung công việc cho phù hợp, khoa học, hiệu quả: “Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc, Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn, Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp, Đồng bào công nông thi đua sản xuất, Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh, Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự nhân dân…”(2). Về cách thức thi đua, Hồ Chí Minh chỉ rõ, phải có phương hướng đúng, xác định rõ nội dung, biện pháp cho từng lĩnh vực cụ thể. Đặc biệt, Người luôn nhấn mạnh và yêu cầu phải: “Dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân”(3). Trong quá trình thi đua, Người thường lưu ý, phải coi trọng sáng kiến, tổng kết kinh nghiệm. Từ những sáng kiến và kinh nghiệm trong từng ngành, lĩnh vực, ở một địa phương, cơ quan, đơn vị… sẽ được phổ biến, lan rộng ra nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều cơ quan, cho đến cả nước; phải coi những sáng kiến, kinh nghiệm là tài sản vô giá, cần được phát huy và phổ biến: “Sáng kiến và kinh

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Hội thảo quốc tế \”Chiến lược quốc gia trong tương lai và nhìn trước công nghệ\”

Sáng ngày 18 tháng 4 năm 2019, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (VISTI) và Viện Chính sách Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (STEPI) đã tổ chức hội thảo \”Chiến lược quốc gia trong tương lai và nhìn trước công nghệ\”, trong khuôn khổ Dư án “Tư vấn chính sách nhằm tăng cường năng lực Nhìn trước cho hoạch định chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam (2019-2020)” thuộc Chương trình ODA K-Innovation do Viện STEPI điều phối với sự tham dư của hơn 40 đại biểu đến từ cơ quan quản lý và nghiên cứu của Bộ KH&CN và môt số Bộ, ngành khác.   Tham dự hội thảo, về phía Việt Nam có sự tham dự của TS. Lê Đình Tiến – Nguyên Thứ trưởng Bộ KH&CN, TS. Tạ Doãn Trinh – Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, ông Nguyễn Hoàng Hải – Quyền Trưởng Ban Quản lý khoa học và đào tạo, VISTI và ông Kum Donghwa – Viện trưởng Viện KH&CN Việt Nam – Hàn Quốc (VKIST). Về phía Hàn Quốc, có sự tham gia của GS. Park Young Il – Nguyên Thứ trưởng Bộ KH&CN Hàn Quốc, Trường Đại học Ewha, TS. Byeongwon Park – Nghiên cứu viên chính Viện STEPI và TS. Yoohyunh Won – Nghiên cứu viên cao cấp Viện KIST. Mục tiêu của Hội thảo là chia sẻ kinh nghiệm của Hàn Quốc và Việt Nam về hoạch định mang tầm chiến lược với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo dựa trên nhìn trước công nghệ. Tại hội thảo, các chuyên gia Hàn Quốc và Việt Nam đã cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm của hai nước trong việc tăng cường năng lực nhìn trước cho hoạch định chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Nguyễn Hoàng Hải cho biết: “Với sứ mệnh của mình, VISTI có chức năng quan trọng trong nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển KH&CN Việt Nam, đặc biệt là trong những năm sắp tới khi Việt Nam đang hướng tới phát triển KT-XH dựa trên KH&CN. Hàn Quốc là quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong việc lồng ghép các ưu tiên phát triển KH&CN vào trong Chiến lược phát triển KT-XH. Do đó, Hội thảo là cơ hội giúp các chuyên gia Việt Nam có thêm kinh nghiệm trong việc xây dựng chiến lược quốc gia về KH&CN”. Trình bày tại Hội thảo, GS Young Il Park đánh giá Việt Nam đang ở giai đoạn nắm bắt công nghệ, tức là hướng tới mục tiêu để đạt được những khoa học, công nghệ đã có. Với xu hướng khoa học, công nghệ đóng vai trò then chốt để phát triển kinh tế trong thời gian tới, Việt Nam cần nắm bắt nhu cầu và nhìn trước công nghệ, đặt ra mục tiêu để dẫn đầu một số công nghệ sắp có trên thế giới. Cũng tại buổi Hội thảo, các khách mời đã được nghe các chuyên gia Hàn Quốc giới thiệu về Nhìn trước công nghệ và ứng dụng của Nhìn trước công nghệ trong hoạch định chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Hàn Quốc, đồng thời, chỉ ra trong giai đoạn hiện nay, các viện nghiên cứu thuộc Chính phủ đang chuẩn bị như thế nào trong hoạch định chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (STI). Hội thảo còn là diễn đàn để các nhà khoa học trong nước trình bày về chiến lược STI của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, kinh nghiệm sử dụng Nhìn trước công nghệ cho chiến lược STI, những bài học kinh nghiệm trong xây dựng công cụ Nhìn trước công nghệ hiệu quả hơn trong bối cảnh chuyển đổi kế hoạch khoa học và công nghệ trung hạn và dài hạn hiện nay theo hướng có sự tham gia rộng rãi hơn của các bên liên quan …. Nhiều đại biểu tham dự Hội thảo cho rằng, hiện nay, việc xây dựng kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ của Việt Nam còn thiếu sự phối hợp tham gia của các bộ ngành khác. Đây là một trong những khó khăn để có cái nhìn toàn cảnh về nhu cầu công nghệ. Để đạt được những thành công như Hàn Quốc đã gặt hái, kế hoạch phát triển khoa học và nhìn trước công nghệ của Việt Nam cần thỏa mãn được 3 vấn đề chính: (i) Vai trò và nhiệm vụ của khoa học, công nghệ đối với tương lai của quốc gia; (ii) tầm nhìn ngắn, trung và dài hạn của quốc gia với phát triển khoa học công nghệ; bản chất của sự tiến bộ khoa học công nghệ; (iii) kế hoạch cũng phải xác định rõ ai dẫn dắt và làm như thế nào để tiến bộ khoa học có thể áp dụng trong thực tiễn./. Nguồn Visti

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Hội thảo báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ (về IoT ở Việt Nam cho giai đoạn đến năm 2025)

Ngày 04 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở 38 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (Học viện) đã tổ chức hội thảo báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu cấp Bộ. Tham dự hội thảo có đại diện Lãnh đạo Ban Quản lý khoa học và đào tạo, Chủ nhiệm đề tài, các thành viên nhóm nghiên cứu triển khai đề tài và một số cán bộ nghiên cứu thuộc Học viện, Bộ Khoa học và Công nghệ và Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông, Bộ Thông tin và Truyền thông. Quang cảnh hội thảo Đề tài nghiên cứu cấp Bộ \”Xu hướng phát triển, triển vọng ứng dụng và các khuyến nghị chính sách phát triển Internet kết nối vạn vật (Internet of Things – IoT) ở Việt Nam cho giai đoạn đến năm 2025\” do TS. Bạch Tân Sinh làm chủ nhiệm được thực hiên trong 02 năm (từ 06/2017 đến 06/2019) do nhóm nghiên cứu gồm các nhà nghiên cứu đến từ Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghê, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ và Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông, Bộ Thông tin và Truyền thông. Chủ nhiệm đề tài TS. Bạch Tân Sinh đã thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày môt số nội dung chính: (i) Bối cảnh hình thành chủ đề nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn về sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu xu hướng phát triển và  triển vọng ứng dụng IoT ở Việt Nam trong bối cảnh Viêt Nam đang chủ động thích ứng với cuộc cách mang công nghiêp lần thứ tư đang diễn ra; (ii) Cách tiếp cận nghiên cứu mang tính liên ngành của đề tài đã được Lãnh đạo Học viện khích lệ và ủng hộ; (iii) khung phân tích đánh giá phát triển và ứng dụng IoT dựa trên năng lực hấp thụ quốc gia của IoT do nhóm nghiên cứu xây dựng; (iv) Đề xuất 04 nhóm giải pháp chính sách theo 04 trụ cột của năng lực hấp thụ quốc gia. Nhóm nghiên cứu trao đổi tại hội thảo Kết quả đề tài sau gần hai năm thực hiện, nhóm nghiên cứu đã đạt được một số kết quả gồm: (i) 10 Bài báo khoa học đã được đăng tại 02 Tạp chí khoa học (Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ và Tạp chí Chính sách và Quản lý KH&CN, Học Viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo); (ii) 03 Báo cáo chuyên đề phuc vụ yêu cầu của Bộ Khoa học và Công nghệ; (iii) 02 Báo cáo khoa học trình bày tại Hội thảo khoa học; (iv) 01 Sách chuyên khảo dự kiến sẽ xuất bản tại Nhà Xuất bản Thông tin và Truyền thông, Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2020. Đây là hoạt động thường kỳ của Học viện nhằm mục đích chia sẻ kết quả triển khai thực hiện của nhóm nghiên cứu với các đồng nghiệp và cũng là dịp để nhóm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu để có thể hoàn thiện hơn chất lượng kết quả nghiên cứu trước khi chính thức bảo vệ, nghiệm thu đề tài trước Hội đồng khoa học./. Download thông tin cơ bản và kết quả chi tiết của đề tài. Download thông tin về Slides báo cáo trình bày của đề tài. Nguồn: Visti

Hợp tác quốc tế, Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Sổ tay hướng dẫn – Nhóm chỉ số CN&ĐMST trong bộ chỉ số đánh giá Mức độ sẵn sàng cho tương lai của sản xuất 2018

Chủ đề bài viết: Sổ tay hướng dẫn về Nhóm chỉ số Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, thuộc bộ chỉ số đánh giá Mức độ sẵn sàng cho tương lai của sản xuất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) xây dựng  Ngày 01 tháng 01 năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 02-2019/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019, định hướng đến năm 2021, trong đó, Chính phủ đã giao Bộ Khoa học và Công nghệ làm đầu mối theo dõi bộ chỉ số Đổi mới sáng tạo (ĐMST) theo đánh giá của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và nhóm chỉ số Công nghệ và ĐMST theo đánh giá Mức độ sẵn sàng cho tương lai của sản xuất của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF)[1]. Báo cáo đánh giá Mức độ sẵn sàng cho tương lai của sản xuất (tiếng Anh là Readiness for the Future of Production, viết tắt là FOP) do WEF xây dựng và công bố vào ngày 11/01/2018 nhằm đánh giá mức độ các quốc gia/nền kinh tế sẵn sàng như thế nào trước những cơ hội và thách thức mà cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang tới, đặc biệt là trong sản xuất. Chính phủ đã sử dụng kết quả đánh giá FOP đối với nhóm chỉ số Công nghệ và ĐMST và đưa thành mục tiêu trong Nghị quyết 02/NQ-CP như sau: Nâng xếp hạng các chỉ số thuộc nhóm Giải pháp công nghệ lên 15-20 bậc; năm 2019 tăng 5-7 bậc; Nâng xếp hạng các chỉ số thuộc nhóm Năng lực Đổi mới sáng tạo lên 15-20 bậc; năm 2019 tăng 3-5 bậc. Để kịp thời cung cấp thông tin hướng dẫn, hỗ trợ các bộ, cơ quan, địa phương theo dõi, nắm bắt và cải thiện nhóm chỉ số Công nghệ và ĐMST thuộc bộ chỉ số FOP theo phân công của Chính phủ, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã biên soạn Sổ tay hướng dẫn về Chỉ số FOP 2018. Đây là lần đầu tiên biên soạn tài liệu hướng dẫn này, do đó có thể có những thuật ngữ chuyên ngành chưa được hoàn toàn chính xác, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo rất mong sẽ nhận được các ý kiến đóng góp quý báu của các cơ quan, tổ chức, các chuyên gia, nhà khoa học, độc giả để tiếp tục hoàn thiện. Tải về tại: Server 1 hoặc Server dự phòng Mọi thông tin liên lạc và góp ý xin gửi về: Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Địa chỉ: 38 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội Email: visti@most.gov.vn, điện thoại: 0912.772.494, 024.38265454, 024.38265451 Xin trân trọng cảm ơn. [1] Điểm III.1.a, Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ ngày 01/01/2019. Nguồn: Visti

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Sổ tay hướng dẫn Chỉ số đổi mới sáng tạo – Global Innovation Index – GII

  Ngày 01/01/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp  chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021. Theo đó, Chính phủ đã đặt mục tiêu \”Nâng xếp hạng Đổi mới sáng tạo – GII (của WIPO) lên 5-7 bậc, trong năm 2019 tăng từ 2-3 bậc\”. Một số chỉ tiêu cụ thể khác cũng đã được đặt ra như: – Nâng xếp hạng nhóm chỉ số Hạ tầng công nghệ thông tin lên 10 – 15 bậc; năm 2019 tăng 5 – 7 bậc (Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì). – Nâng xếp hạng chỉ số Tuyển dụng lao động thâm dụng tri thức lên từ 15 – 20 bậc; năm 2019 tăng 5 – 7 bậc (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì). – Nâng xếp hạng chỉ số Hợp tác nghiên cứu nhà trường – doanh nghiệp lên 10 – 15 bậc; năm 2019 tăng 3 – 5 bậc (Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì). – Nâng xếp hạng chỉ số Công nghệ thông tin và sáng tạo trong mô hình kinh doanh lên 15 – 20 bậc; năm 2019 tăng 5 – 7 bậc (Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì). – Nâng xếp hạng chỉ số Công nghệ thông tin và sáng tạo trong mô hình của tổ chức lên 10 – 15 bậc; năm 2019 tăng 3 – 5 bậc (Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì). – Nâng xếp hạng các chỉ số thuộc nhóm Sáng tạo trực tuyến lên 10 – 14 bậc; năm 2019 tăng 3 – 5 bậc (Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì). Học viện Khoa học Công nghệ và Đổi mới Sáng tạo (Bộ Khoa học và Công nghệ) được phân công làm đầu mối theo dõi bộ chỉ số Đổi mới sáng tạo của WIPO và có trách nhiệm xây dựng tài liệu hướng dẫn các bộ, cơ quan, địa phương để có cách hiểu đúng, thống nhất về bộ chỉ số, nhóm chỉ số, chỉ số thành phần; tài liệu hướng dẫn phải được công khai trên Trang thông tin điện tử của bộ, cơ quan. Trước đó, thực hiện nhiệm vụ đầu mối theo dõi bộ chỉ số Đổi mới sáng tạo của WIPO do Chính phủ phân công tại Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP (về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp  chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017 và định hướng đến năm 2020), Học viện Khoa học Công nghệ và Đổi mới Sáng tạo đã xây dựng Sổ tay hướng dẫn chỉ số Đổi mới sáng tạo GII năm 2017 và năm 2018. Tài liệu đã được in ấn và phát hành đến các bộ, cơ quan, địa phương từ cuối năm 2017 và cuối năm 2018. Thực hiện yêu cầu của Chính phủ tại Nghị quyết 02/NQ-CP năm 2019 và để tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ, cơ quan, địa phương và những người quan tâm tìm hiểu về bộ chỉ số Đổi mới sáng tạo GII, Học viện Khoa học Công nghệ và Đổi mới Sáng tạo đăng tải tài liệu này trên trang thông tin điện tử chính thức của Học viện và của Bộ KH&CN. Tài liệu được chia thành 02 văn bản như sau: Sổ tay hướng dẫn chỉ số Đổi mới sáng tạo GII – Phần 1 và Phần 2 Phần 1: Giới thiệu chung về Khung chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu và Chỉ số Đổi mới sáng tạo của Việt Nam Phần 2: Hướng dẫn chi tiết từng chỉ số ĐMST Sổ tay hướng dẫn chỉ số Đổi mới sáng tạo GII – Phần 3 Phần 3: Phụ lục hướng dẫn truy cập dữ liệu và báo cáo liên quan Báo cáo GII năm 2019 sẽ được tổ chức WIPO công bố vào quý 3/2019. Sau khi Báo cáo được công bố, Học viện Khoa học Công nghệ và Đổi mới Sáng tạo sẽ thực hiện cập nhật, điều chỉnh Sổ tay hướng dẫn để phù hợp với các nội dung mới của Báo cáo. Các chỉ số ĐMST rất rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau nên có những thuật ngữ chuyên ngành có thể chưa được hoàn toàn chính xác, Học viện Khoa học Công nghệ và Đổi mới Sáng tạo rất mong tiếp tục nhận được các ý kiến đóng góp quý báu của các cơ quan, tổ chức, các chuyên gia, nhà khoa học, độc giả để tiếp tục hoàn thiện. Tải sổ tay tại đây: Phần 1 – 2 ; Phần 3 Xin chân thành cảm ơn. Nguồn Visti

Lên đầu trang