Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ

Tên tác giả: admin

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Giới thiệu báo cáo chỉ số GII năm 2020 và kết quả của Việt Nam

\”Trong bộ Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2020, Việt Nam tiếp tục được xem là hình mẫu của các nước đang phát triển khác trong việc thiết lập đổi mới sáng tạo (ĐMST) như là một ưu tiên quốc gia. Việc ban hành Nghị quyết từ năm 2017, sử dụng bộ chỉ số GII như một công cụ đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động ĐMST của quốc gia là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của ĐMST đối với sự phát triển đất nước”. Đó là nhận định của ông Francis Gurry, Tổng Giám đốc Tổ chức Sở hữu trií tuệ Thế giới (WIPO) khi đánh giá về xếp hạng Chỉ số GII của Việt Nam năm 2020. Thông tin được đưa ra tại Hội thảo Giới thiệu báo cáo chỉ số GII năm 2020 và kết quả của Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức chiều ngày 08/9/2020, tại Hà Nội. Toàn cảnh Hội thảo. Hội thảo có sự tham gia trực tuyến của các chuyên gia từ Tổ chức WIPO, Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, WTO và các tổ chức quốc tế và đại diện KH&CN Việt Nam tại Geneva, Thụy Sĩ; đại diện các Bộ, Cơ quan được giao chủ trì chỉ số, các đơn vị thuộc Bộ KH&CN được giao chủ trì chỉ số GII, GCI… Tại Hội thảo, các chuyên gia đã tập huấn, cung cấp những thông tin mới nhất về kết quả Chỉ số GII của Việt Nam năm 2020, các điều chỉnh về phương pháp luận, ý nghĩa của chỉ số và các vấn đề đặt ra. Qua đó giúp các bộ, cơ quan, địa phương hiểu rõ hơn về Chỉ số GII và kết quả của Việt Nam; từ đó tiếp tục xây dựng, triển khai các giải pháp cải thiện chỉ số nhằm đạt mục tiêu như Chính phủ đã đặt ra và phân công cho các bộ, cơ quan, địa phương. Nhiều chỉ số ấn tượng Trong bảng xếp hạng GII 2020, Việt Nam xếp hạng 42/131 quốc gia/nền kinh tế, duy trì thành công thứ hạng đã đạt được năm 2019 – được các chuyên gia WIPO đánh giá là cao hơn so với trình độ phát triển hiện nay của Việt Nam (năm 2019, Việt Nam xếp hạng 42/129 quốc gia/nền kinh tế). Cụ thể, so với năm 2019, chỉ số GII của Việt Nam có nhiều kết quả tích cực. Thứ nhất là cải thiện về Trình độ phát triển của kinh doanh, theo đánh giá của WIPO, năm 2020 hệ thống ĐMST của Việt Nam có kết quả nổi bật về Trình độ phát triển của thị trường, xếp hạng 39, tăng 30 bậc từ vị trí 69 năm 2019. Trong đó, tiến bộ đáng chú ý là về liên kết ĐMST, với kết quả tốt hơn ở chỉ số Hợp tác Viện trường – doanh nghiệp (tăng 10 bậc, từ vị trí 75 lên 65) và chỉ số Quy mô phát triển của cụm công nghiệp (tăng 32 bậc, từ vị trí 74 lên 42). Năng lực Hấp thụ tri thức tăng 13 bậc so với năm 2019, xếp hạng 10 – là thế mạnh của Việt Nam nhờ sự dẫn đầu về Nhập khẩu công nghệ cao (hạng 4) và Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) (hạng 19). Thứ hai là cải thiện về Cơ sở hạ tầng chung, năm 2020, Trụ cột 3. Cơ sở hạ tầng tiếp tục có sự cải thiện tích cực, tăng 09 bậc so với năm 2019. Trong đó, đáng kể nhất là nhóm chỉ số về Hạ tầng ICT – tăng 6 bậc so với 2019 với tiến bộ rõ rệt về Tiếp cận ICT (tăng 4 bậc từ vị trí 90 lên 86) và Sử dụng ICT (tăng 27 bậc, từ vị trí 92 lên 65). Các chỉ số liên quan tới năng lượng trong GII 2020 cũng có sự cải thiện tích cực. Chỉ số Sản lượng điện theo đầu người tiếp tục cải thiện so với 2019, tăng 5 bậc, từ vị trí 81 lên 76. Chỉ số GDP/đơn vị năng lượng sử dụng tăng 7 bậc từ vị trí 92 lên 85. Thứ ba là cải thiện về đầu ra ĐMST, nhóm chỉ số Sáng tạo tri thức và Lan truyền tri thức có cải thiện tích cực so với 2019, trong đó, nhóm chỉ số Lan truyền tri thức xếp hạng 14 được coi là thế mạnh của Việt Nam, nhờ sự dẫn đầu về Xuất khẩu công nghệ cao (hạng 2). Đặc biệt, chỉ số Số công bố bài báo khoa học và kĩ thuật đã tăng 13 bậc so với 2019, từ vị trí 74 lên 61. Trụ cột 7. Sản phẩm sáng tạo tăng 9 bậc so với năm 2019, xếp hạng 38. Có 06 chỉ số ở trụ cột này cải thiện so với 2019 và có thứ hạng cao như Số lượng ứng dụng phần mềm được sản xuất (hạng 10, tăng 3 bậc); chỉ số Đăng kí nhãn hiệu theo xuất xứ (hạng 20, tăng 4 bậc). Chỉ số Sản lượng ngành công nghệ cao và công nghệ trung bình cao tăng 4 bậc, từ 27 lên 23. Đặc biệt, với 33 thương hiệu nằm trong tốp 5000, dẫn đầu là công ty viễn thông Viettel Telecom, Việt Nam xếp hạng thứ 19 ở chỉ số mới được đưa vào sử dụng lần đầu tiên trong GII 2020 – chỉ số Giá trị thương hiệu toàn cầu. Báo cáo của WIPO cho thấy, các nước xếp trên Việt Nam trong GII 2020 đều là các quốc gia/nền kinh tế phát triển, thuộc nhóm thu nhập cao. Trong nhóm 29 quốc gia có thu nhập trung bình thấp được xếp hạng năm

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Việt Nam đề nghị WIPO đánh giá chính sách đổi mới sáng tạo

Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam liên tục tăng, tuy vậy lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng còn những điểm cần điều chỉnh để phù hợp tình hình mới. Chiều 8/9, Bộ Khoa học và Công nghệ và Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới (WIPO) tổ chức hội thảo trực tuyến về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2020 sau công bố xếp hạng mới đây. Năm nay Việt Nam xếp thứ 42 trên 131 quốc gia và nền kinh tế được chuyên gia quốc tế đánh giá là một kỷ lục, ghi nhận sự năng động, có nhiều bước đi sáng tạo, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trong bối cảnh khó khăn chung vì đại dịch. Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Thế Duy cho rằng, các dữ liệu sẽ giúp đánh giá chính sách, đưa ra những thay đổi một cách khoa học, khách quan hơn cùng với góc nhìn của các chuyên gia. Theo ông Duy, việc Việt Nam giữ được thứ 42/131 quốc gia và nền kinh tế là nỗ lực của toàn hệ thống trong việc thực hiện Nghị quyết của Chính phủ. Điểm rõ nhất có thể thấy trong thời gian qua, hàng loạt dự án, Viện nghiên cứu của doanh nghiệp tư nhân, Trung tâm đổi mới sáng tạo được hình thành. Sự thay đổi này được tích hợp và được đánh giá khách quan thông qua chỉ số GII từ năm 2017 đến nay của Việt Nam tăng liên tục, từ vị trí 59 năm 2016 nâng lên 42 trong năm 2019 và 2020. \”Trong bối cảnh khó khăn của năm 2020, khi nền kinh tế các quốc gia đều bị ảnh hưởng bởi Covid-19, Việt Nam nổi lên như một hình mẫu về chống dịch và tích lũy kết quả nghiên cứu đổi mới sáng tạo trong nhiều năm và đưa ra giải pháp về khoa học công nghệ\”, ông Duy nói. Một chỉ số đáng bất ngờ, 6 tháng đầu năm 2020, dù giãn cách vì Covid-19 nhưng số lượng đơn sở hữu trí tuệ, bằng phát minh sáng chế tăng và số bằng được công nhận của Việt Nam cũng tăng hơn so với năm 2019. \”Đây cũng là dấu hiệu tích cực và ngược chiều so với suy thoái do đại dịch\” ông Duy nói và cho biết, trong thành công này ghi nhận WIPO đã vào cuộc quyết liệt, giúp Việt Nam hình thành mạng lưới IP Hub thúc đẩy các sáng chế trong các trường đại học và doanh nghiệp, viện nghiên cứu. So với năm 2019, chỉ số về các sản phẩm sáng tạo tăng 9 bậc; chỉ số hợp tác viện trường, doanh nghiệp tăng 10 bậc; chỉ số Số công bố bài báo khoa học và kĩ thuật tăng 13 bậc; năng lực hấp thụ tri thức tăng 13 bậc. Trong nhóm chỉ số đầu vào tạo thuận lợi cho đổi mới sáng tạo Việt Nam tiếp tục tăng 1 bậc. Thứ trưởng Bùi Thế Duy phát biểu tại sự kiện chiều 8/9 Bà Lê Thị Tuyết Mai, Đại sứ Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva (Thụy Sỹ) cho biết, việc Việt Nam xếp thứ 42 trong bảng xếp hạng được quốc tế đánh giá rất cao trong bối cảnh khó khăn toàn cầu. Bà Mai dẫn đánh giá của các chuyên gia WIPO, Việt Nam cùng Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines là bốn quốc gia có sự tiến bộ đáng kể trong bảng xếp hạng GII qua các năm gần đây, hiện nay đều đã nằm trong nhóm 50 quốc gia dẫn đầu. Việt Nam đang tịnh tiến đến nhóm 40 quốc gia dẫn đầu về chỉ số này với đa số là các quốc gia thu nhập cao. \”Đây là kết quả đáng tự hào nhưng cũng đầy thách thức trong bối cảnh khó khăn chung của đại dịch để có thể duy trì chỉ số đổi mới sáng tạo\”, bà Mai nói. Ông Sacha Wunsch – Vincen, Chuyên gia cao cấp của WIPO, tác giả báo cáo GII 2020 cho rằng, nhìn tổng quan các trụ cột sẽ thấy Việt Nam tích hợp được các điểm tương đồng cần thúc đẩy trong đầu tư cho nhân lực, chi phí vào R&D, xuất khẩu công nghệ cao… Cùng với đó, trình độ phát triển của doanh nghiệp có sự gia tăng vượt bậc góp phần quan trọng vào việc nâng hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam. Ông Sacha Wunsch chia sẻ thông tin trực tuyến chiều 8/9. Ảnh chụp màn hình. Để có thể duy trì và tiếp tục nâng hạng, ông Sacha Wunsch cho rằng, Việt Nam cần xác định đâu là nút thắt nghẽn để các doanh nghiệp tư nhân có thể tăng đầu tư cho nghiên cứu và gia tăng hoạt động sáng tạo của họ. Hợp tác giữa trường – viện nghiên cứu, phát triển các cụm nghiên cứu… cũng là yếu tố quan trọng để phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. \”Cần chi tiêu nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo, R&D của doanh nghiệp\”, ông Sacha Wunsch nói. Thứ trưởng Bùi Thế Duy đề nghị các bộ, ngành thời gian tới liên tục lưu trữ, cập nhật dữ liệu để phục vụ cho việc điều hành của Chính phủ và các bộ ngành. Làm sao để chính sách theo kịp, thúc đẩy đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo và tích hợp được các kết quả nghiên cứu, phát triển của doanh nghiệp vào chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Ông đề xuất các chuyên gia WIPO giai đoạn tới cùng với Việt Nam

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2020-2025

Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, thực hiện Kế hoạch số 155-KH/ĐUK và Hướng dẫn số 14-HD/ĐUK của Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương về một số nội dung Đại hội đảng bộ các cấp trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương, Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ KH&CN lần thứ XXIII nhiệm kỳ 2020-2025 trong 02 ngày 27 và 28/8/2020, tại Hà Nội. Quang cảnh Đại hội Tới dự Đại hội có đồng chí Sơn Minh Thắng, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương; đồng chí Trương Xuân Cừ, Phó Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương cùng các đồng chí đại diện các ban của Đảng ủy Khối; các đồng chí đại diện Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam; Đại học Quốc gia Hà Nội, Cục An ninh kinh tế… Về phía Bộ KH&CN, có đồng chí Chu Ngọc Anh, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng, Bộ trưởng, đồng chí Trần Văn Tùng, Thứ trưởng, Bí thư Đảng uỷ Bộ, các đồng chí Uỷ viên Ban cán sự Đảng, các đồng chí trong Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng ủy Bộ nhiệm kỳ 2015-2020; Các đồng chí nguyên là lãnh đạo Bộ, lãnh đạo Đảng ủy Bộ KH&CN qua các thời kỳ và 213 đại biểu chính thức đại diện cho 1941 đảng viên đến từ 49 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Đảng bộ Bộ KH&CN. Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong triển khai nhiệm vụ Đồng chí Trần Văn Tùng, Phó Bí thư Ban cán sự, Bí thư Đảng ủy Bộ KH&CN, Thứ trưởng Bộ KH&CN phát biểu khai mạc Đại hội. Sau phần phát biểu khai mạc của Bí thư Đảng ủy, Thứ trưởng Trần Văn Tùng, Thứ trưởng Lê Xuân Định đã báo cáo hoạt động giai đoạn 2015-2020. Điểm đặc biệt ở nhiệm kỳ này là Chính phủ đã bổ sung chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động đổi mới sáng tạo cho Bộ Khoa học và Công nghệ. Đồng chí Lê Xuân Định, Ủy viên Ban cán sự, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ KH&CN, Thứ trưởng Bộ KH&CN trình bày Báo cáo chính trị của Đảng bộ Bộ KH&CN nhiệm kỳ 2015 – 2020 tại Đại hội. Thứ trưởng Lê Xuân Định cho biết, giai đoạn 2015-2020, Bộ KH&CN có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội. Năng suất lao động được nâng lên thể hiện qua chỉ số năng suất các yếu tố tổng hợp TFP (tăng từ 33,6% giai đoạn 2011-2015 lên 44,46% giai đoạn 2016-2019), tỉ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 50% năm 2020. Tiềm lực nghiên cứu và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao thông qua số lượng các bài báo khoa học, công trình công bố quốc tế tăng trưởng nhanh, trung bình trên 20%/năm. Hiện, cả nước có gần 67.000 cán bộ nghiên cứu và phát triển quy đổi tương đương toàn thời gian – TFP (đạt 7 người/vạn dân). Hiện, Đề án Hệ Tri thức Việt số hóa được triển khai để hình thành cơ sở dữ liệu số của người Việt. Có 3 khu công nghệ cao quốc gia là Hòa Lạc, TPHCM và Đà Nẵng đã thu hút hàng trăm dự án đầu tư với số vốn hàng chục tỷ USD. Nguồn lực tài chính từ xã hội và doanh nghiệp cho KH&CN tăng, thể hiện qua tỉ trọng đầu tư giữa Nhà nước và doanh nghiệp là (52/48) so với tỉ lệ 70/30 của hơn 5 năm trước. Vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo ngày càng trở nên quan trọng. Thị trường công nghệ được thúc đẩy phát triển, cả nước có 15 sàn giao dịch công nghệ, 50 vườn ươm công nghệ, 186 tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp và mạng lưới các trung tâm ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KH&CN trên toàn quốc. Những đóng góp của KH&CN còn thể hiện qua chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tục tăng. Năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng 2 bậc, năm 2019 tăng tiếp 3 bậc, xếp thứ 42 trên 129 quốc gia, đưa Việt Nam vươn lên dẫn đầu nhóm 26 quốc gia thu nhập trung bình thấp và đứng thứ 3 ASEAN. Nhiệm kỳ 2015-2020, được sự quan tâm, lãnh đạo sâu sát của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, sự hướng dẫn kịp thời, trách nhiệm của các Ban chuyên môn thuộc Đảng ủy Khối, Đảng ủy Bộ KH&CN đã phối hợp chặt chẽ với Ban cán sự đảng lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức đảng, các vụ, đơn vị phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, khắc phục mọi khó khăn để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị; công tác xây dựng Đảng, chính quyền; hoàn thành các chỉ tiêu theo nghị quyết Đại hội đã đề ra. Trong thời gian qua, Đảng bộ Bộ KH&CN luôn chú trọng chỉ đạo thực hiện có hiệu quả và coi công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng. Để thực hiện hiệu quả công tác này, Đảng ủy Bộ KH&CN đã tổ chức có hiệu quả việc học tập, phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện các nghị

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Bộ KH&CN luôn chia sẻ, đồng hành cùng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã khẳng định như trên tại buổi tổng kết Chương trình hợp tác giữa Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Học viện) giai đoạn 2015 – 2020 và nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Chương trình hợp tác giai đoạn 2021 – 2026 vừa diễn ra chiều ngày 21/8 tại Học viện, Hà Nội. Toàn cảnh buổi làm việc. Tham dự chủ trì buổi làm việc có đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương; đồng chí Chu Ngọc Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ KH&CN. Về phía Bộ KH&CN còn có đồng chí Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ KH&CN, đồng chí Nguyễn Hoàng Giang, Thứ trưởng Bộ KH&CN và đại diện lãnh đạo các đơn vị liên quan thuộc Bộ KH&CN. Nhiều kết quả nghiên cứu phục vụ Văn kiện Đại hội XIII Tại buổi làm việc, PGS.TS Lê Văn Lợi, Phó Giám đốc Học viện cho biết: ngày 30/12/2014, Học viện đã ký Chương trình hợp tác giai đoạn 2015 – 2020 với Bộ KH&CN. Trên cơ sở Chương trình hợp tác được ký kết, việc hợp tác giữa hai bên từ năm 2015 đến nay tập trung vào một số lĩnh vực: Nghiên cứu, tham mưu, đề xuất xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm thực hiện quan điểm KH&CN là quốc sách hàng đầu. Tham gia ý kiến thẩm định các đề án, dự án được phân công trước khi trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Nghiên cứu phục vụ đổi mới nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và của hệ thống chính trị;… Giai đoạn 2015-2020, một số nhiệm vụ khoa học trọng điểm đã được triển khai như: Đề án giai đoạn 2015-2016 “Hợp tác nghiên cứu, phổ biến tư tưởng Hồ Chí Minh giữa Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với Viện Hồ Chí Minh của Trường Đại học Tổng hợp Xanh – Petecbua, Liên bang Nga”; Đề án khoa học cấp Bộ trọng điểm giai đoạn 2016-2017 “Nghiên cứu các luận cứ khoa học để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở nước ta”; Đề án khoa học cấp Bộ trọng điểm giai đoạn 2017-2018 “Những giải pháp đột phá nhằm thực hiện sáu nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng”; Chương trình KH&CN trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020 “Nghiên cứu tổng kết, đề xuất bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin – Cấu phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới”; Chương trình khoa học cấp Bộ trọng điểm giai đoạn 2019-2020 “Nghiên cứu đề xuất định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học nghệ thuật”. Các nghiên cứu do Bộ KH&CN và Học viện thống nhất triển khai đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học có giá trị tham khảo cao, phục vụ trực tiếp cho công tác hoạch định chủ trương, chính sách nói chung, chủ trương, chính sách về phát triển KH&CN của Đảng và Nhà nước.  Đồng thời, đóng góp nhiều cho việc đổi mới nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và của hệ thống chính trị. Ngoài ra, nhờ có Chương trình phối hợp nêu trên, lần đầu tiên Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã được giao chủ trì tổ chức triển khai thực hiện một chương trình nghiên cứu KH&CN cấp quốc gia KX02. Các kết quả nghiên cứu hướng đến phục vụ việc biên soạn Văn kiện Đại hội XIII của Đảng gồm hai báo cáo kiến nghị như: Một số vấn đề về sở hữu và thành phần kinh tế ở nước ta;Về đổi mới nhận thức và tổ chức thực tiễn nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Đồng quan điểm trên, Phó Bí thư Đảng ủy Học viện, GS.TS Trần Văn Phòng khẳng định: sự hợp tác của hai bên đã góp phần rất lớn trong việc hoàn thành chuẩn quốc gia cho cả hệ thống của Học viện, đặc biệt là việc cập nhật những kiến thức cơ bản cũng như năng lực nghiên cứu của Học viên đã được cải thiện, nâng cao rõ rệt trong thời gian qua. Tuy nhiên, cũng theo Phó Giám đốc Học viện Lê Văn Lợi, sự phối hợp của mỗi bên trong xác định các nhiệm vụ hợp tác từng năm và xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện chưa được thường xuyên. Một số nội dung của Chương trình triển khai chưa thực hiện hiệu quả, sâu rộng qua một số hoạt động như: trao đổi, tham vấn, tổ chức tọa đàm, hội thảo về các nội dung thuộc lĩnh vực KH&CN; mời cán bộ Học viện tham gia nghiên cứu, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, khảo sát; Hỗ trợ Học viện mở rộng hợp tác quốc tế;… Phát triển bền vững dựa trên nền tảng KHCN & ĐMST Tại buổi làm việc, ngoài những chia sẻ kinh nghiệm, đề xuất tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai, trên cơ sở những

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Khai trương Trung tâm Thông tin, chỉ đạo, điều hành và Hệ thống Thông tin báo cáo quốc gia

Sáng 19/8, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, VPCP tổ chức lễ khai trương Hệ thống Thông tin báo cáo quốc gia, Trung tâm Thông tin, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và công bố dịch vụ công trực tuyến thứ 1.000 trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.   Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu tại lễ khai trương Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia và Trung tâm chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Ảnh: VGP/Quang Hiếu Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước và phục vụ người dân, DN ngày một tốt hơn, VPCP đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai nhiều hệ thống nền tảng về Chính phủ điện tử, phục vụ người dân và DN. Sau một thời gian triển khai xây dựng, được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, vào ngày 19/8, lễ khai trương Hệ thống Thông tin báo cáo quốc gia, Trung tâm Thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được tổ chức. Cùng ngày, dịch vụ công thứ 1.000 sẽ được tích hợp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia (DVCQG) sau hơn 8 tháng vận hành. Buổi lễ được tổ chức tại Trung tâm Thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ đặt tại VPCP và trực tuyến đến 63 điểm cầu tại các tỉnh, thành phố và một số điềm cầu trải nghiệm thực tế tại Hà Nội, TPHCM, Quảng Ninh, Trung tâm Điều hành ứng phó sự cố và tìm kiếm cứu nạn. Hệ thống Thông tin báo cáo quốc gia và Trung tâm Thông tin, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đi vào vận hành được coi là điểm nhấn quan trọng mang tính đổi mới, thay đổi phương thức chỉ đạo, điều hành từ dựa trên thông tin, số liệu trên văn bản giấy chuyển sang dựa trên dữ liệu số. Trung tâm Thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, được kết nối với các trung tâm điều hành, hệ thống thông tin báo cáo, các cơ sở dữ liệu quốc gia, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành của bộ, ngành, địa phương, trở thành một trong những thành phần cốt lõi của hạ tầng số thông minh. Từ Trung tâm, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ có thể theo dõi, kiểm tra được các hoạt động theo từng lĩnh vực do các bộ, ngành, địa phương quản lý. Đồng thời, thông qua dữ liệu số, hình ảnh trực quan, trực tuyến, giúp lãnh đạo Chính phủ thực hiện công tác chỉ đạo, điều hành trực tiếp tới các bộ, ngành, địa phương và trên thực địa. Tại lễ khai trương, các đại biểu sẽ trải nghiệm Hệ thống Thông tin báo cáo quốc gia, Trung tâm Thông tin, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bao gồm giới thiệu về giao diện, các hợp phần, tính năng và chức năng, ý nghĩa của hệ thống; hiển thị thông tin và kết nối hệ thống cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương với các chỉ số quan trọng… Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng phát biểu tại buổi lễ. Ảnh: VGP/Quang Hiếu Tại buổi lễ, Thủ tướng Chính phủ sẽ làm việc và chỉ đạo trực tiếp với lãnh đạo một số địa phương, cơ quan tại các điểm cầu: Bình Phước, Quảng Ninh, Thừa Thiên-Huế và Trung tâm Quốc gia điều hành tìm kiếm cứu nạn. Theo Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng, tiếp nối các sự kiện tiêu biểu trong xây dựng Chính phủ điện tử thời gian qua, Hệ thống Thông tin báo cáo quốc gia và Trung tâm Thông tin, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được khai trương sẽ là điểm nhấn quan trọng trong chặng đường xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử; thể hiện quyết tâm cải cách hành chính, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý, loại bỏ dần việc xử lý công việc bằng hệ thống văn bản giấy, đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành theo hướng Chính phủ không giấy tờ. Cũng trong ngày 19/8, VPCP sẽ công bố tích hợp 3 dịch vụ công trực tuyến được người dân, DN quan tâm trên Cổng DVCQG. Đó là dịch vụ công thứ 1000: Kê khai, nộp lệ phí trước bạ và nộp tờ khai đăng ký ô tô trực tuyến; dịch vụ công số 999: Liên thông đăng ký điều chỉnh đóng BHXH bắt buộc, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp và báo cáo tình hình thay đổi lao động và dịch vụ công thứ 998: Đóng BHXH bắt buộc, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp. Cổng DVCQG sau hơn 8 tháng vận hành đã kết nối với 18 bộ, cơ quan, 63 tỉnh, thành phố và 8 ngân hàng, trung gian thanh toán, đơn vị cung cấp dịch vụ ví điện tử; chuẩn bị tích hợp, cung cấp 1.000 dịch vụ công trực tuyến; có gần 56,4 triệu lượt truy cập, hơn 220.000 tài khoản đăng ký; trên 14 triệu hồ sơ được đồng bộ trạng thái, trên 260.000 hồ sơ được thực hiện. Tổng chi phí xã hội tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công ước tính hơn 13.000 tỷ đồng/năm, trong đó, Cổng DVCQG đóng góp trên 6.700 tỷ đồng/năm. *Liên kết nguồn tin: http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Khai-truong-Trung-tam-Thong-tin-chi-dao-dieu-hanh-va-He-thong-Thong-tin-bao-cao-quoc-gia/404642.vgp Nguồn: Gia Huy – Báo điện tử Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Chính sách Truy cập Mở Quốc gia của Mỹ

Nhà Trắng hiện đang xem xét chính sách truy cập mở quốc gia. Văn phòng Chính sách KH&CN (Office of Science and Technology Policy OSTP) đã tổ chức một loạt các cuộc gặp với các bên tham gia đóng góp và cũng đã đưa ra quy trình Yêu cầu Thông tin – RFI (Request for Information), vốn đã được thiết lập vào tháng 5 vừa qua. Liên minh Xuất bản học thuật và các nguồn tài nguyên hàn lâm (The Scholarly Publishing and Academic Resources Coalition SPARC) đã hưởng ứng hành động này của chính phủ và hàng trăm tổ chức, cá nhân. Đa số đều bày tỏ sự ủng hộ và đồng thuận với một chính sách như vậy. Về cơ bản, SPARC tán thành mạnh việc cập nhật chính sách hiện hành của nước Mỹ và loại bỏ giai đoạn chờ đợi 12 tháng không cần thiết để tạo điều kiện cho mọi người có thể truy cập tới các kết quả nghiên cứu khoa học, bao gồm cả dữ liệu, các bài báo, và mã máy tính hỗ trợ. SPARC cho rằng họ sẽ tiếp tục giám sát chặt chẽ các diễn biến và thúc giục chính quyền hành động để đưa nước Mỹ có những động thái phù hợp với các chính sách mở của các quốc gia trên toàn cầu. Ở Quốc hội, SPARC tiếp tục làm việc cùng với các thành viên liên minh của cả Hạ viện và Thượng viện trong việc khai thác các cơ hội thúc đẩy nghiên cứu mở ở nước Mỹ. SPARC đã khuyến khích Ủy ban Y tế – Giáo dục – Lao động – Hưu trí Thượng viện Mỹ để đưa truy cập mở thành phần không thể thiếu trong quá trình lên kế hoạch chuẩn bị cho đất nước sẵn sàng đối phó và kiểm soát các đại dịch trong tương lai. Rút lại phản đối của nhà xuất bản Vào tháng 12/2019, Hiệp hội các Nhà xuất bản Mỹ – AAP (Association of American Publishers) đã gửi thư cho chính quyền phản đối chính sách mở  với sự ủng hộ của các nhà xuất bản và các tổ chức xã hội về học thuật. Sau các bình luận từ nhiều thành viên cá nhân của tổ chức này, vài trong số những người đã hủy bỏ ủng hộ của họ đối với bức thư của AAP. Đặc biệt, trong thư gửi cho Văn phòng Chính sách KH&CN, Hiệp hội Máy Tính (ACM), Hiệp hội Khoa học Tâm thần (APS) đã thể hiện “hối tiếc đã ký với liên minh” còn Ủy ban về Xuất bản của Hiệp hội Xã hội học Mỹ (ASA) “phản đối quyết định đó của ASA”. Có thể, quan điểm của họ đã thay đổi từ khi đại dịch COVID-19 xảy ra trên toàn cầu, đặc biệt qua phân tích của giới truyền thông Mỹ, như “COVID-19 chỉ ra rằng các tạp chí khoa học cần mở” của Justin Fox trên Bloomberg News ngày 30/6/2020, “Nhà Trắng của Trump sẽ xé bỏ các tường phí? Nhiều người chờ đợi quyết định” của Jeffrey Brainard trên Science ngày 21/5/2020, “Các nhà khoa học đang làm sáng tỏ về coronavirus của Trung Quốc với tốc độ và tính mở chưa từng thấy” của Carolyn Y. Johnson trên tờ Bưu điện Washington ngày 24/1/2020, “Các nhà nghiên cứu tức giận về sự phản đối của các hiệp hội với sự dịch chuyển sang truy cập mở” của Ben Upton trên Research Professional News ngày 9/1/2020, “Tiếp cận của các Hiệp hội Khoa học ở thời điểm của sự thật” của Justin Fox trên Bloomberg News ngày 6/1/2020. Lê Trung Nghĩa dịch Nguồn: https://sparcopen.org/our-work/us-national-open-access-policy/ *Liên kết nguồn tin: https://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Chinh-sach-Truy-cap-Mo-Quoc-gia-cua-My-25443 Nguồn Tạp chí Tia Sáng

Tin tức, sự kiện - Tin tức

AI giúp giảm chi phí thuê mua công nghệ từ nước ngoài

Sự kiện được tổ chức trực tuyến sáng 18/8 tại Hà Nội với sự tham dự của thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Thế Duy, đại diện các cơ quan quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp… Ngoài đầu cầu tại Bộ Khoa học và Công nghệ, sự kiện còn kết nối các chuyên gia tại Canada và Australia. Trong phần phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Bùi Thế Duy cho biết đây là sự kiện mở đầu nằm trong chuỗi sự kiện AI4VN được tổ chức thường niên, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy ngành trí tuệ nhân tạo (AI) Việt Nam. Năm nay, do ảnh hưởng của Covid-19, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức sự kiện online ở Hà Nội và trực tiếp tại TP HCM (dự kiến tháng 11) nhằm đảm bảo đúng quy định giãn cách. Ông Duy cho rằng, việc tổ chức sự kiện trong bối cảnh Covid-19 nhằm kịp thời cung cấp thông tin để doanh nghiệp ổn định sản xuất, phục hồi chuỗi đứt gãy trong cung cấp hàng hóa, từ đó đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động. \”Sự kiện hướng tới thúc đẩy các nền tảng hệ thống trực tuyến, chuyển đổi số đang ngày càng ứng dụng rộng rãi trong xu thế của cuộc cách mạng 4.0\”. Ở phần chia sẻ của các diễn giả, đại diện các doanh nghiệp, viện nghiên cứu đều chỉ ra nhiều ví dụ minh chứng về vai trò của AI cả trong sản xuất và cuộc sống. Bà Joumana Ghosn, Giám đốc Nghiên cứu ứng dụng – Viện nghiên cứu Trí tuệ Nhân tạo Mila (Canada) chia sẻ, trí tuệ nhân tạo được ứng dụng rất gần gũi trong cuộc sống. Đơn cử như ứng dụng AI tại đơn vị điều trị, thăm khám từ xa giúp cho các bệnh nhân giao tiếp, trao đổi với bác sỹ, sử dụng hệ thống hỏi đáp tự động bằng ngôn ngữ tự nhiên. Hay như Mila từng phối hợp với doanh nghiệp khai khoáng mỏ địa chất, tự động phân tích ảnh 3D khi khảo sát vùng mỏ. Khi Covid-19 bùng phát, Viện Mila hợp tác với Chính phủ Canada để xây dựng hệ thống giải đáp các câu hỏi từ người dân và doanh nghiệp về dịch bệnh. Phiên bản đầu tiên thực hiện trong 2 tháng rưỡi với nguồn dữ liệu, thông tin thu thập từ các chuyên gia. Từ thực tế các dự án, lời khuyên của đại diện viện Mila đối với các doanh nghiệp, ứng dụng AI là cần thiết, song cần nhấn mạnh vai trò của các lãnh đạo cấp cao, trang bị đủ nguồn lực con người, sẵn sàng cho các rủi ro. Theo bà, hầu hết các doanh nghiệp hiện nay lúng túng trong quá trình cập nhật công nghệ. Với AI khi ứng dụng doanh nghiệp cần liên tục cải thiện và kiên nhân với những lỗi sai vì đây là quá trình tự học và hoàn thiện của công nghệ. Ngoài ra, doanh nghiệp cần tiếp \”nhiên liệu\” là dữ liệu cho hệ thống AI. \”Phải có dữ liệu thì những hệ thống này mới tạo ra giá trị\”, bà Joumana Ghosn nói. Ông Trần Công Quỳnh Lân cho biết, công nghệ hỗ trợ giúp doanh nghiệp kết nối với khách hàng từ xa. Ảnh: Giang Huy. Ở góc độ doanh nghiệp trong nước, ông Trần Công Quỳnh Lân, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam (VietinBank) cho biết, khi dịch bùng phát, hoạt động hàng ngày của ngân hàng cũng chịu hưởng, như việc gặp gỡ trực tiếp với khách hàng bị gián đoạn, khiến lượng giao dịch trầm lắng. Thế nhưng trong \”cái khó ló cái khôn\”, ngân hàng đẩy mạnh các sản phẩm công nghệ, làm việc từ xa, gặp mặt khách hàng trực tiếp từ xa. Nhiều khách hàng phản hồi rất thích vì họ giảm được chi phí đi lại, thời gian mà vẫn đạt hiệu quả. Ông cho biết hiện VietinBank đang hợp tác với FPT triển khai ứng dụng chatbot để giải đáp các thắc mắc trong nghiệp vụ nội bộ của ngân hàng. Từ những tình huống hay gặp phải của nhân viên, hệ thống đào tạo để chabot hiểu và từ đó tự động trả lời cho nhân viên. Thay vì việc phải chờ sự giúp đỡ từ các bộ phận, nhân viên hoàn toàn có thể chat với chatbot để nhận được câu trả lời nhanh gọn. Ngân hàng này cũng thúc đẩy triển khai ứng dụng online banking trong giao dịch, chỉ 6 tháng đầu năm, số lượng khách hàng online mới của VietinBank tăng hơn nửa triệu khách hàng. Ông Nguyễn Thành Lâm, Giám đốc Khối Sản phẩm ứng dụng, Viện Nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo VinAI Research (Tập đoàn Vingroup) thì cho rằng trong ứng dụng AI, triết lý chung mà đơn vị này theo đuổi đó là tốc độ và quyết tâm. Ông Lâm minh họa, khi ra mắt mẫu Vsmart, VinAI Research đã chủ động sản xuất được công nghệ FaceID thay vì phải bỏ ra số tiền rất lớn để mua công nghệ này từ Mỹ hoặc Trung Quốc. \”VinAI Research có những con người giỏi, tài năng và cả sức ép để hoàn thành nhiều sản phẩm. Tuy nhiên kinh phí vẫn là yếu tố rất quan trọng để cho ra đời những sản phẩm trí tuệ nhân tạo chất lượng\”, ông Lâm nói. Đồng tình quan điểm về tốc độ và tính kịp thời, phía đầu cầu Australia, Tiến sĩ Stefan Hajkowicz, Trưởng nhóm nghiên cứu nhóm chuyên gia kỹ thuật số của cơ quan khoa học quốc gia (Data61) của Australia cho biết, AI hiện diện ở mọi lĩnh vực kinh tế, địa phương của nước này. Hiện Chính phủ, các chuyên gia hàng đầu của Australia và doanh nghiệp đang

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Quy định mới về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 90/2020/NĐ-CP về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức, có hiệu lực thi hành từ 20/8/2020. Ảnh minh họa Theo Nghị định, tiêu chí chung về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức bao gồm: 1. Chính trị, tư tưởng; 2. Đạo đức, lối sống; 3. Tác phong, lề lối làm việc; 4. Ý thức tổ chức kỷ luật; 5. Kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Nghị định cũng quy định rõ về tiêu chí xếp loại chất lượng cán bộ ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ như sau: 1. Thực hiện tốt các quy định thuộc tiêu chí chung nêu trên; 2. Các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao đều hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả cao; 3. Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành các cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ngành, lĩnh vực công tác được giao phụ trách hoàn thành tất cả các chỉ tiêu, nhiệm vụ, trong đó ít nhất 50% chỉ tiêu, nhiệm vụ hoàn thành vượt mức; 4. 100% cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền phụ trách, quản lý trực tiếp được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ trở lên, trong đó ít nhất 70% hoàn thành tốt hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tiêu chí xếp loại chất lượng cán bộ ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ như sau: 1. Đáp ứng các tiêu chí chung quy định; 2. Các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao đều hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả; 3. Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành các cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ngành, lĩnh vực công tác được giao phụ trách hoàn thành tất cả các chỉ tiêu, nhiệm vụ, trong đó ít nhất 80% hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng; 4. 100% cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền phụ trách, quản lý trực tiếp được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ trở lên. Tiêu chí xếp loại chất lượng cán bộ ở mức hoàn thành nhiệm vụ như sau: 1. Đáp ứng các tiêu chí chung quy định; 2. Các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao đều hoàn thành, trong đó có không quá 20% tiêu chí chưa đảm bảo chất lượng, tiến độ hoặc hiệu quả thấp; 3. Lãnh đạo, chỉ đạo điều hành cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ngành, lĩnh vực công tác được giao phụ trách hoàn thành trên 70% các chỉ tiêu, nhiệm vụ; 4. Có ít nhất 70% cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền phụ trách, quản lý trực tiếp được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ trở lên. Nghị định cũng quy định rõ tiêu chí xếp loại chất lượng cán bộ ở mức không hoàn thành nhiệm vụ. Theo đó, cán bộ có một trong các tiêu chí sau đây thì xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ: 1. Có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa theo đánh giá của cấp có thẩm quyền; 2. Có trên 50% các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao chưa đảm bảo tiến độ, chất lượng, hiệu quả; 3. Cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ngành, lĩnh vực công tác được giao phụ trách hoàn thành dưới 50% các chỉ tiêu, nhiệm vụ; 4. Cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền phụ trách, quản lý trực tiếp liên quan đến tham ô, tham nhũng, lãng phí và bị xử lý theo quy định của pháp luật; 5. Có hành vi vi phạm trong quá trình thực thi nhiệm vụ bị xử lý kỷ luật trong năm đánh giá. Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định rõ về tiêu chí xếp loại công chức, viên chức, thẩm quyền, trình tự, thủ tục đánh giá xếp loại cán bộ, công chức, viên chức. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ 20/8/2020. * Liên kết nguồn tin: http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Quy-dinh-moi-ve-danh-gia-xep-loai-chat-luong-can-bo-cong-chuc-vien-chuc/404402.vgp Nguồn : LP – Báo điện tử Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Thông báo tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ của Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2021

Căn cứ Quyết định số 2171/QĐ-BKHCN ngày 07/8/2020 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc phê duyệt danh mục nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ tuyển chọn bắt đầu thực hiện từ năm 2021, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo thông báo về phương thức và kế hoạch thực hiện tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ năm 2021 gồm các nhiệm vụ sau: 1. Tên nhiệm vụ: – Nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ thứ nhất “Nghiên cứu nhận dạng mô hình trung tâm đổi mới sáng tạo của một số quốc gia và đề xuất giải pháp cho Việt Nam”. – Nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ thứ hai “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về cụm đổi mới sáng tạo (Cluster of Innovation) và đề xuất giải pháp cho Việt Nam”. – Nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ thứ ba “Nghiên cứu xu thế chuyển dịch mô hình khu công nghệ cao của một số quốc gia và đề xuất hướng điều chỉnh mô hình khu công nghệ cao Hòa Lạc”. 2. Phương thức tuyển chọn: Phương thức tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 33/2014/TT-BKHCN ngày 06/11/2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ về ban hành Quy chế quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ của Bộ Khoa học và Công nghệ. 3. Hồ sơ nhiệm vụ được chuẩn bị theo mẫu thống nhất do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành kèm theo Thông tư nêu trên. 4. Nơi nhận Hồ sơ: Văn phòng Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (số 38 Ngô Quyền, phường Hàng Bài, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội). 5. Thời hạn nộp hồ sơ: 17 giờ 00 ngày 11 tháng 9 năm 2020, các hồ sơ gửi trực tiếp được tính theo dấu đến của Văn thư Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, các hồ sơ gửi qua đường bưu điện được tính theo dấu đến của Bưu điện Hà Nội chậm nhất là ngày 11 tháng 9 năm 2020. Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo trân trọng thông báo./. Thông tin chi tiết của các nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ nên trên tại Quyết định số 2171/QĐ-BKHCN ngày 07/8/2020 được đính kèm theo. [pdf-embedder url=\”http://visti.gov.vn/wp-content/uploads/2020/08/QĐ-số-2171.danh-muc-tuyen-chon.pdf\” title=\”QĐ số 2171.danh muc tuyen chon\”]   Nguồn VISTI

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Thông báo về việc phê duyệt danh mục danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ xét giao trực tiếp bắt đầu thực hiện từ năm 2021 (theo Quyết định số 2153/QĐ-BKHCN ngày 05/8/2020)

Thực hiện Quyết định số 2153/QĐ-BKHCN ngày 05/8/2020 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc Phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ xét giao trực tiếp bắt đầu thực hiện từ năm 2021, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ thông báo như sau: 1.Phê duyệt 01 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ để xét giao trực tiếp cho Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo thực hiện năm 2021 với các thông tin chi tiết như sau: Tên Nhiệm vụ KH&CN \”Nghiên cứu đề xuất giải pháp và xây dựng chức năng, nhiệm vụ về đổi mới sáng tạo của cơ quan chuyên môn KH&CN thuộc UBND cấp tỉnh\” Phương thức tổ chức thực hiện: Giao trực tiếp cho Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Dự kiến thời gian thực hiện: 15 tháng. 2. Phê duyệt 01 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ để xét giao trực tiếp cho Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo thực hiện năm 2021 với các thông tin chi tiết như sau: Tên Nhiệm vụ KH&CN \”Nghiên cứu chính sách đổi mới sáng tạo chuyển đổi (Transformative Innovation Policy) và đề xuất nội dung chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vì sự phát triển bền vững ở Việt Nam \” Phương thức tổ chức thực hiện: Giao trực tiếp cho Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Dự kiến thời gian thực hiện: 18 tháng. 3. Phê duyệt 01 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ để xét giao trực tiếp cho Trung tâm dịch vụ KH&CN, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo thực hiện năm 2021 với các thông tin chi tiết như sau: Tên Nhiệm vụ KH&CN \” Nghiên cứu xây dựng khung chương trình bồi dưỡng về Quản trị đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp có hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam\” Phương thức tổ chức thực hiện: Giao trực tiếp cho Trung tâm dịch vụ KH&CN, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Dự kiến thời gian thực hiện: 18 tháng. 4. Phê duyệt 01 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ để xét giao trực tiếp cho Trung tâm dịch vụ KH&CN, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo thực hiện năm 2021 với các thông tin chi tiết như sau: Tên Nhiệm vụ KH&CN \”Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ số hóa đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp có hoạt động KH&CN ở Việt Nam\” Phương thức tổ chức thực hiện: Giao trực tiếp cho Trung tâm dịch vụ KH&CN, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Dự kiến thời gian thực hiện: 18 tháng Thông tin chi tiết tại Quyết định số 2153/QĐ-BKHCN ngày 05/8/2020 được đính kèm theo. [pdf-embedder url=\”http://visti.gov.vn/wp-content/uploads/2020/08/QĐ-2153.pdf\” title=\”QĐ 2153\”]   Nguồn VISTI  

Lên đầu trang