Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ

Tin tức, sự kiện

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo

(TBTCVN) – Ngày 27/9, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Mục tiêu tới năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh. Tại Nghị quyết đã thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu và một số chủ trương, chính sách để thực hiện mục tiêu; trong đó xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao là động lực phát triển. Kinh tế số sẽ chiếm từ 20 đến 30% GDP Nghị quyết nêu mục tiêu tổng quát là: Tận dụng có hiệu quả các cơ hội do cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại để thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hoá đất nước; phát triển mạnh mẽ kinh tế số; phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi của người dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái. “Nghị quyết nêu rõ: Hoàn thiện pháp luật, chính sách về tài chính – tiền tệ, thanh toán điện tử, quản lý thuế và các dịch vụ xuyên biên giới phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế số. Hoàn thiện chính sách đặt hàng sản xuất và mua sắm công đối với các sản phẩm công nghệ số do Việt Nam sản xuất”. Mục tiêu cụ thể được xác định tại Nghị quyết là: Cụ thể, tới năm 2025, xây dựng được hạ tầng số đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN; internet băng thông rộng phủ 100% các xã; kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP; năng suất lao động tăng bình quân trên 7%/năm. Cơ bản hoàn thành chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, nhà nước, mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội; có ít nhất 3 đô thị thông minh tại 3 vùng kinh tế trọng điểm. Đến năm 2030, duy trì xếp hạng về chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới. Mạng di động 5G phủ sóng toàn quốc; mọi người dân được truy cập internet băng thông rộng với chi phí thấp; kinh tế số chiếm trên 30% GDP; năng suất lao động tăng bình quân khoảng 7,5%/năm. Hoàn thành xây dựng chính phủ số. Hình thành một số chuỗi đô thị thông minh tại các khu vực kinh tế trọng điểm. Tới năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á; có năng suất lao động cao, đủ năng lực làm chủ và áp dụng công nghệ hiện đại ở tất cả các lĩnh vực. Có cơ chế đầu tư mạo hiểm Tại Nghị quyết, có 8 nhóm chủ trương, chính sách được đưa ra để thực hiện mục tiêu, trong đó có chủ trương hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi cho chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số quốc gia. Trong đó, Bộ Chính trị yêu cầu: Hoàn thiện pháp luật, trước hết là pháp luật về doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư, kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số quốc gia và phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới dựa trên nền tảng công nghệ số, internet và không gian mạng; đồng thời ngăn chặn kịp thời các tác động tiêu cực cả về kinh tế và xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng. Bổ sung một số ngành nghề kinh doanh mới được ưu đãi đầu tư để thúc đẩy tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Có cơ chế cho doanh nghiệp nhà nước thực hiện đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ, đầu tư mạo hiểm, đầu tư vào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Hoàn thiện các chính sách tài chính nhằm khuyến khích, huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo. Sửa đổi các quy định về đầu tư theo hướng tạo thuận lợi cho các hoạt động thu hút vốn, mua cổ phần, mua bán sáp nhập doanh nghiệp công nghệ; các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo… H.G Nguồn Thời báo Tài chính Việt Nam online

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Ra mắt bản đồ số của người Việt

Dự án thành phần của Hệ tri thức Việt số hoá, không chỉ có các tính năng cơ bản như tìm kiếm địa chỉ, chỉ đường… mà còn có sự khác biệt khi hiển thị lớp bản đồ riêng của các lĩnh vực trong cuộc sống và hiển thị địa chỉ chi tiết tới từng số nhà, dù ở thành thị hay miền núi, vùng sâu, vùng xa. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông… cùng nhấn nút ra mắt Bản đồ số Việt Nam (Vmap). Ảnh: VGP/Đình Nam Ngày 1/10, tại Hà Nội đã diễn ra Lễ ra mắt nền tảng Bản đồ số Việt Nam – Vmap trong khuôn khổ Đề án Chính phủ “Phát triển Hệ tri thức Việt số hoá”. Đến dự Lễ ra mắt có Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và đại diện lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Được chính thức triển khai từ năm 2018, Đề án “Phát triển Hệ tri thức Việt số hóa” có mục tiêu phát triển nền tảng dữ liệu, tri thức trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đến nay, Đề án đã bước đầu hình thành hệ thống nền tảng với các chức năng và công cụ cho phép thu thập, xử lý và chia sẻ các dữ liệu dùng chung trong một số lĩnh vực. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh cho biết: Đề án “Phát triển Hệ tri thức Việt số hoá” là đề án rất quan trọng, mang tính dài hạn của Chính phủ, trong đó giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ với tư cách thường trực, phối kết hợp với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp tổ chức thực hiện Đề án. Đề án mang tính kết nối tri thức dựa trên nền tảng những công nghệ mới nhất như trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (BigData). Với mạng lưới hơn 12.000 điểm phục vụ cùng hơn 50.000 lao động trải rộng tới tận cấp xã, thôn bản và hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, cùng kinh nghiệm thu thập dữ liệu trong nhiều lĩnh vực, Tổng công ty Bưu điện Việt Nam được giao là đơn vị chủ trì, phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội xây dựng và triển khai dự án “Nền tảng dữ liệu Bản đồ số Việt Nam” – Vmap. Trong hơn 3 tháng, hơn 120.000 nhân viên Bưu điện và đoàn viên, thanh niên trên cả nước đã tích cực tới từng khu phố, thôn bản để thu thập thông tin. Thông qua điện thoại thông minh đã cài đặt phần mềm có các tính năng thu thập dữ liệu, gắn tọa độ, thời gian, chụp ảnh… mỗi nhân viên đã thu thập tên địa chỉ (hộ gia đình, cửa hàng, địa điểm…); địa chỉ chi tiết của địa điểm (số nhà, đường phố, hẻm, xóm…) và các ghi chú về loại đối tượng (nhà hàng, nhà dân, ngân hàng, chợ… ). Sau khi xác nhận thông tin chuẩn, dữ liệu sẽ được tích hợp và đưa lên bản đồ số Việt Nam tại địa chỉ https://map.itrithuc và htpts://vmap.vn. Vmap xây dựnghệ thống cơ sở dữ liệu bản đồ nền (lớp bản đồ về biên giới, hành chính, giao thông, sông ngòi…). Các lớp cơ sở dữ liệu chứa các thông tin về tọa độ, thông tin đi kèm của các đối tượng (địa danh, trường học, bệnh viện, hiệu thuốc, khách sạn…) và địa chỉ nhà dân. Hiện, Vmap đang có hơn 23,4 triệu dữ liệu địa chỉ trên cả nước. Bên cạnh các tính năng cơ bản nhưtìm kiếm địa chỉ, chỉ đường, Vmap sẽ đi theo một hướng đi khác biệt, hữu ích nhất cho người dùng. Đó là hiển thị lớp bản đồ riêng của các lĩnh vực trong cuộc sống và hiển thị địa chỉ chi tiết tới từng số nhà, dù ở thành thị hay miền núi, vùng sâu, vùng xa. Cập nhật dữ liệu Vmap. Ảnh: VGP Thời gian tới, Bưu điện Việt Nam sẽ tiếp tục cập nhật các dữ liệu, thông tin lên Vmap. Đặc biệt, đội ngũ bưu tá mỗi lần đi phát hàng hóa, thư báo cũng liên tục cập nhật thêm các thông tin cần thiết lên bản đồ trực tuyến Vmap. Ngoài ra, Vmap cũng sẽ được bổ sung thêm các ứng dụng đi kèm để hấp dẫn hơn và giúp người dùng sử dụng các ứng dụng nhanh chóng, thuận tiện hơn. Đánh giá về Vmap, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên Phạm Đại Dương cho biết, thông qua dự án này, một mặt người dùng của Phú Yên được tiếp cận và truy cập các dữ liệu dùng chung của cả hệ thống tri thức Việt số hoá. Mặt khác, đây cũng là cơ hội để quảng bá tri thức, văn hoá, du lịch của địa phương cho cả nước. Đóng góp thực hiện Vmap, chỉ trong vòng 2 tuần cuối năm 2018, các đoàn viên thanh niên, cán bộ bưu điện tỉnh và tình nguyện viên của Phú Yên đã thu thập và cập nhật toàn bộ 218.000 địa chỉ trên toàn tỉnh. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã xây dựng kế hoạch triển khai các dự án về giáo dục, văn hoá, du lịch,… để đóng góp vào Hệ tri thức Việt số hoá. Đánh giá cao tính ứng dụng của Vmap, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam Lê Thanh Hưng cho biết, các doanh nghiệp thương mại điện tử rất cần các dịch vụ bản đồ số và hiện đang sử dụng các dịch vụ khác nhau có sẵn trên thị trường. Tuy nhiên, các dịch vụ này đa phần do các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp và còn

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Tổ chức Khóa đào tạo giảng viên kỹ năng bổ trợ dành cho cán bộ nghiên cứu

Ngày 30/9/2019 tại Hà Nội, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã phối hợp với Hội đồng Anh và chuyên gia Đại học Coventry, Vương quốc Anh tổ chức Khóa đào tạo giảng viên kỹ năng bổ trợ dành cho cán bộ nghiên cứu trong khuôn khổ Dự án “Nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo Việt Nam” từ ngày 30/9/2019 đến ngày 04/10/2019. Đến dự Lễ khai giảng khóa học, về phía Hội đồng Anh có Bà Trần Gấm – Phó Giám đốc Chương trình giáo dục; đại diện Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (VISTI) có TS. Trần Quang Huy – Phụ trách Khoa Quốc tế và Đào tạo sau đại học, Học viện VISTI; chuyên gia Vương quốc Anh: TS.Vaughan Shilton và Bà Susie Maugham; chuyên gia Việt Nam: TS. Phạm Thị Bích Ngọc – Đại học Kinh tế quốc dân cùng toàn thể Ban Tổ chức khóa bồi dưỡng. Học viên tham gia khóa học là các cán bộ giảng viên, cán bộ nghiên cứu đến từ Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, Viện toán học, Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Viện Ứng dụng công nghệ (Nacentech), Đại học An Giang, Đại Học Quốc gia Hà Nội, Học viện VISTI, Viện Dầu Khí Việt Nam (VPI), Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP. Hồ Chí Minh, Cục Ứng dụng & Phát triển công nghệ (Bộ KH&CN); Trung tâm sáng tạo và Ươm tạo FTU, Viện Kinh tế và Quản lý, Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Học viện Khoa học công nghệ, Học viện Kỹ thuật Quân sự. Với mục tiêu phát triển đội ngũ chuyên gia giảng dạy về “Kỹ năng bổ trợ dành cho cán bộ nghiên cứu” đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt nam vì mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở tham dự khóa tập huấn tại Hà Nội và trực tiếp giảng dạy tại Việt Nam với sự hướng dẫn của chuyên gia đến từ đại học Coventry, Vương quốc Anh. Chương trình khóa học gồm những nội dung sau: Kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy về quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Vương quốc Anh; Kỹ năng giảng dạy cơ bản; Thiết kế chương trình bồi dưỡng về Kỹ năng bổ trợ dành cho cán bộ nghiên cứu; Hướng dẫn sử dụng công cụ, phương tiện giảng dạy; Kỹ năng giảng dạy và quản lý lớp học nâng cao; Kỹ năng giảng dạy các chuyên đề thuộc nhóm học thuật (chất lượng nghiên cứu, viết bài báo khoa học, đánh giá tác động nghiên cứu, chuyển giao tri thức); Kỹ năng giảng dạy các chuyên đề thuộc nhóm quản lý (quản lý nhiệm vụ KHCN, quản lý nhóm nghiên cứu, kỹ năng giao tiếp thuyết trình và phát triển nghề nghiên cứu). Để đảm bảo các khóa học sát với thực tiễn Việt Nam, dự án hợp tác có mời các chuyên gia Việt Nam là những cán bộ có nhiều kinh nghiệm thực tiễn tham gia, qua đó các chuyên gia Việt Nam sẽ giúp cho các học viên tiếp thu được các kiến thức, kỹ năng mới và liên hệ với thực tiễn của Việt Nam tốt hơn. Thông qua việc truyền đạt kiến thức, thảo luận các tình huống, khóa học hứa hẹn sẽ cung cấp cho học viên các kiến thức, kỹ năng nâng cao năng lực giảng dạy. Bên cạnh đó, khóa học cũng là diễn đàn và là dịp để các học viên cùng trao đổi, chia sẻ kiến thức, thông tin và kinh nghiệm trong hoạt động nghề nghiệp của đơn vị mình. Nguồn: VISTI

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Phải biến các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, hàng hóa

Đó là ý kiến của Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh tại Hội nghị “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng Đông Nam Bộ” do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức, ngày 24-9, tại TP Vũng Tàu. Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ, Chu Ngọc Anh phát biểu tại hội nghị. Tham dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Chu Ngọc Anh, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ; Nguyễn Hồng Lĩnh, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; lãnh đạo các tỉnh và thành phố vùng Đông Nam Bộ và hơn 300 đại biểu là đại diện các doanh nghiệp, các nhà khoa học trong vùng. Phát biểu ý kiến khai mạc hội nghị, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ, Chu Ngọc Anh nhấn mạnh, hội nghị quan trọng này là một trong những hoạt động nhằm triển khai Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 19-7-2019 của Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Theo đó, để khoa học và công nghệ trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, các địa phương thuộc vùng Đông Nam Bộ cần có các giải pháp mạnh mẽ nhằm thu hút đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, các nhà khoa học tài năng; cần có các giải pháp tăng cường đầu tư cho khoa học – công nghệ. Phải xác định doanh nghiệp là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, phải biến các kết quả nghiên cứu khoa học – công nghệ từ các viện, trường thành sản phẩm, hàng hóa. Tại hội nghị, các đại biểu cũng đã được nghe 15 tham luận, là những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các cơ quan quản lý nhà nước về khoa học – công nghệ, các doanh nghiệp có nhiều ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất, trong đó có nhiều tham luận đã chỉ rõ những bất cập, khó khăn trong hoạt động chuyển giao công nghệ, phát triển các doanh nghiệp khoa học, như: Khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, lựa chọn chính sách nhằm tăng cường hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia; Đổi mới sáng tạo – thực trạng và vấn đề đặt ra cho các địa phương vùng Đông Nam Bộ trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế; Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại các tỉnh, thành khu vực phía nam… TIN, ẢNH: NGUYỄN NAM Nguồn Báo nhân dân điện tử

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Chiến lược giáo dục Việt Nam: Phải chung dòng chảy với thế giới

Chiều 17/9, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ chủ trì buổi làm việc với bà Dominique, Viện chiến lược giáo dục của UNESCO, bà Simone Vis, Trưởng Chương trình giáo dục UNICEF tại Việt Nam và các thành viên tổ biên tập chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045. Tại đây, Bộ trưởng cho rằng: Trong chiến lược phát triển quốc gia 10 năm tới, phải hình dung được vai trò của giáo dục. Chúng ta không sợ nhanh hay chậm mà quan trọng phải cùng chung dòng chảy với thế giới. Đảm bảo tính tổng thể và khả thi Nêu vấn đề về yêu cầu với khung chiến lược giáo dục Việt Nam 10 năm tới, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho biết, Việt Nam đang chuẩn bị xây dựng chiến lược kinh tế – xã hội 2021-2030, tầm nhìn 2045, trong chiến lược phát triển quốc gia có hợp phần phát triển giáo dục, với mục tiêu phát triển con người là trọng tâm. Đặt trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, khi các mục tiêu của giáo dục thay đổi rất nhanh, vì thế, các chỉ số phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn tới phải hợp lý, chiến lược giáo dục Việt Nam phải không xa lạ với khu vực, thế giới, và phải là một bộ phận của chiến lược phát triển con người toàn cầu. Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ phát biểu tại buổi làm việc Trong chiến lược phát triển quốc gia 10 năm tới, chúng ta phải hình dung được vai trò vị trí của giáo dục nằm ở đâu và trách nhiệm như thế nào. Chúng ta không sợ nhanh hay chậm mà quan trọng phải cùng chung dòng chảy với thế giới. Xu hướng giáo dục quốc tế hiện nay rất mạnh, trong đó, có xu hướng cá thể hóa trong giáo dục. Chiến lược giáo dục Việt Nam giai đoạn tới phải đặt trong bối cảnh giáo dục công dân toàn cầu, tính đến sự cạnh tranh quyết liệt của giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và phải tính đến việc chuyển giao tri thức không phân biệt quốc gia. Theo Bộ trưởng, tất cả những yêu cầu về phát triển con người toàn diện và hình thành công dân toàn cầu cần được thể hiện thông qua các chỉ số. Ở mỗi bậc học sẽ có các chỉ số cụ thể, chỉ số thành phần, các chỉ số này cần phải được lựa chọn và phân tích kỹ để đảm bảo tính khả thi. Trong đó lưu ý minh chứng, luận giải các chỉ số, đưa ra các giải pháp để đạt được các chỉ số cũng như xác định rõ nguồn lực thực hiện. Bộ trưởng cho rằng, bản chiến lược này vô cùng quan trọng cho 10 năm tới. Vì vậy, cần phải tính toán đảm bảo các chỉ số mang tính tổng thể và khả thi. Giới thiệu về khung chiến lược giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 đang được Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam xây dựng, PGS Lê Anh Vinh, Phó Viện trưởng cho biết, hiện nay tổ biên tập chiến lược này đang triển khai phân tích dữ liệu toàn ngành, để từ đó tiến hành các bước tiếp theo như xác định chính sách chiến lược ưu tiên, phác thảo chương trình, có kế hoạch hành động, kế hoạch tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá… PGS Lê Anh Vinh, Phó Viện trưởng Viện KHGDVN giới thiệu về dự thảo chiến lược giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 Tổ biên tập cũng đã bước đầu xác định bộ chỉ số các bậc học: mầm non, phổ thông, đại học, thường xuyên. Trong đó bậc học mầm non, phổ thông, đại học sẽ bao gồm các chỉ số về  tiếp cận, chất lượng và điều kiện đảm bảo; giáo dục thường xuyên gồm các chỉ số về xóa mù chữ cơ bản và xóa mù chữ chức năng, nguồn lực phát triển giáo dục thường xuyên. Theo ông Vinh, một bản chiến lược kế hoạch tốt cần có tầm nhìn, có chiến lược, có tính tổng thể, có căn cứ, có tính khả thi, chú trọng những tồn tại về khoảng cách và bất bình đẳng, đồng thời đặt trong bối cảnh của phát triển kinh tế – xã hội. “Hiện nay, tổ biên tập đang triển khai xây dựng Chiến lược giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021-2030 dựa trên những yêu cầu căn bản này”. Thách thức là đảm bảo công bằng trong giáo dục Chia sẻ kinh nghiệm xây dựng chiến lược giáo dục tại buổi làm việc, bà Dominique, chuyên gia Viện chiến lược giáo dục của UNESCO – một người có nhiều năm làm việc và nghiên cứu về giáo dục Việt Nam khi trả lời cho câu hỏi “giáo dục Việt Nam đã làm gì để thành công” – cho rằng, đảm bảo công bằng trong giáo dục là “thương hiệu” của Việt Nam nhưng để duy trì được “thương hiệu” này tới đây sẽ là thách thức. Bà Dominique, chuyên gia Viện chiến lược giáo dục của UNESCO chia sẻ tại buổi làm việc  Nhìn nhận về những chỉ số được đưa ra trong dự thảo khung chiến lược giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021-2030, bà Dominique nhận định, đây là một bản tổng hợp những chỉ số hiện hành và các chỉ số mới, về tổng quan đã mang tính toàn diện và tiếp cận các bộ chỉ số quốc tế. Tuy nhiên, theo bà Dominique, các chỉ số trong chiến lược phát triển giáo dục không chỉ được tính theo tỷ lệ trung bình của cả nước, bởi tới đây Việt Nam sẽ thịnh vượng hơn, khoảng cách giữa các vùng miền sẽ khác nhau, vì vậy, tỷ lệ

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Thông báo về việc Tuyển dụng viên chức năm 2019 của Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo

Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ thông báo về việc tuyển dụng viên chức năm 2019 gồm 29 số lượng chỉ tiêu tuyển dụng, trong đó Nghiên cứu viên, Giảng viên: 20 chỉ tiêu; Kế toán viên: 04 chỉ tiêu; Viên chức hành chính, quản lý chuyên ngành: 05 chỉ tiêu. Thông tin chi tiết về đợt tuyển dụng trong năm 2019 của Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo được đính kèm theo dưới đây:  1. Thông báo số 576/TB-HVKHCN ngày 16/9/2019 của Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo về việc tuyển dụng viên chức năm 2019: [pdf-embedder url=\”http://visti.gov.vn/wp-content/uploads/2019/09/TB-576-TB-HVKHCN_Thông-báo-tuyển-dụng-viên-chức-final-đăng-tin.pdf\” title=\”Thông báo tuyển dụng viên chức 2019\”] 2. Mẫu Đơn đăng ký dự tuyển viên chức năm 2019 (Dành cho đối tượng dự tuyển theo Nghị định số 140/2017/NĐ-CP ngày 05/12/2017): Mẫu Đơn đăng ký dự tuyển viên chức theo Nghị định số 140/2017/NĐ-CP 3. Mẫu Đơn đăng ký dự tuyển viên chức năm 2019 (Dành cho đối tượng dự tuyển không theo Nghị định số 140/2017/NĐ-CP ngày 05/12/2017): Mẫu Đơn đăng ký dự tuyển viên chức theo Nghị định số 161/2018/NĐ-CP 4. Mẫu Bìa hồ sơ đăng ký dự tuyển dụng viên chức năm 2019: Mẫu Bìa hồ sơ đăng ký dự tuyển dụng viên chức năm 2019   Trân trọng thông báo! Nguồn: Visti

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Thông báo mời tham dự khóa đào tạo giảng viên

THÔNG BÁO MỜI THAM DỰ KHÓA ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN TRONG CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC GIỮA HỌC VIỆN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CÙNG HỘI ĐỒNG ANH TẠI VIỆT NAM   Thực hiện kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đáp ứng chiến lược phát triển Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo của Việt nam, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt và giao nhiệm vụ thực hiện chương trình “Nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam vì mục tiêu phát triển bền vững” cho Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (Học viện) triển khai năm 2019. Trong thời gian vừa qua, các chuyên gia Vương quốc Anh đã cùng các chuyên gia Việt Nam và Học viện khảo sát nhu cầu đào tạo, thiết kế chương trình, tài liệu và tổ chức các khóa đào tạo dành cho các cán bộ nghiên cứu tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Để triển khai rộng rãi chương trình đào tạo trên cho các cán bộ nghiên cứu trẻ tại các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp, Học viện sẽ tổ chức khóa đào tạo giảng viên cụ thể như sau: Mục tiêu Phát triển đội ngũ chuyên gia giảng dạy về “Kỹ năng bổ trợ dành cho cán bộ nghiên cứu” đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt nam vì mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở tham dự khóa tập huấn tại Hà Nội và trực tiếp giảng dạy tại Việt Nam với sự hướng dẫn của chuyên gia đến từ đại học Coventry, Vương quốc Anh Thời gian và địa điểm Thời gian: 05 ngày từ 30/9/2019 tới 4/10/2019 (sáng từ 9h00 tới 12h00; chiều từ 13h30 tới 16h30); Địa điểm: Phòng học tầng 5 – Nhà B, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, địa chỉ 38 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đối tượng: Tổng số học viên tham dự khóa bồi dưỡng là 20 và chia thành 02 nhóm theo các chủ đề giảng dạy bao gồm: 10 học viên sẽ được đào tạo để giảng dạy các chuyên đề học thuật: Kỹ năng viết bài báo quốc tế, đánh giá tác động của nghiên cứu, đo lường và đánh giá chất lượng nghiên cứu. 10 học viên sẽ được đào tạo để giảng dạy các chuyên đề quản lý: Kỹ năng giao tiếp và làm việc với doanh nghiệp, quản lý dự án nghiên cứu, quản lý nhóm nghiên cứu và quyền sở hữu trí tuệ. Học viên là các cán bộ nghiên cứu, quản lý nghiên cứu đang làm việc tại Bộ Khoa học và công nghệ, các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp đáp ứng được các yêu cầu sau: Yêu cầu chung Cơ quan quản lý học viên đồng ý cử tham dự khóa bồi dưỡng và cam kết cử học viên tham gia giảng dạy chương trình bồi dưỡng về “Kỹ năng bổ trợ dành cho cán bộ nghiên cứu” theo kế hoạch của Học viện vào tháng 11 năm 2019. Trình độ ngoại ngữ (tiếng Anh) tương đương bậc 4 (B2) theo quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24 tháng 01 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam Yêu cầu cụ thể            Nhóm giảng dạy chuyên đề học thuật Trình độ tiến sĩ; Có ít nhất 03 (ba) năm kinh nghiệm làm công tác giảng dạy tính đến thời điểm đăng ký hoặc có tham gia trình bày tại các hội thảo khoa học chuyên ngành trong nước và quốc tế; Là tác giả của ít nhất 03 bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong thời gian 05 (năm) năm tính đến thời điểm đăng ký tham dự. (Đối với học viên dự kiến giảng dạy chuyên đề Kỹ năng viết bài báo quốc tế cần có ít nhất 01 bài báo đăng trên tạp chí quốc tế uy tín trong danh mục ISI/Scopus)           Nhóm giảng dạy chuyên đề quản lý Trình độ thạc sỹ; có kinh nghiệm giảng dạy hoặc đã tham gia trình bày tại các hội thảo khoa học/ hội nghị chuyên ngành trong nước và quốc tế; Là chủ nhiệm của ít nhất 01 nhiệm vụ KHCN cấp cơ sở đã hoàn thành trong thời gian 05 (năm) năm tính đến thời điểm nộp hồ sơ đăng ký; Có ít nhất 03 (ba) năm kinh nghiệm làm công tác quản lý khoa học và công nghệ tính đến thời điểm nộp hồ sơ dự tuyển; (*). Ưu tiên tuyển chọn các học viên đã tham dự chương trình “Bồi dưỡng kỹ năng bổ trợ dành cho cán bộ nghiên cứu” do chuyên gia Vương quốc Anh giảng dạy tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh trong tháng 5, 6 năm 2019. Nội dung chính của khóa học Kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy về quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Vương quốc Anh Kỹ năng giảng dạy cơ bản. Thiết kế chương trình bồi dưỡng về Kỹ năng bổ trợ dành cho cán bộ nghiên cứu Hướng dẫn sử dụng công cụ, phương tiện giảng dạy Kỹ năng giảng dạy và quản lý lớp học nâng cao Kỹ năng giảng dạy các chuyên đề thuộc nhóm học thuật (chất lượng nghiên cứu, viết bài báo khoa học, đánh giá tác động nghiên cứu, chuyển giao tri thức) Kỹ năng giảng dạy các chuyên đề thuộc nhóm quản lý (quản lý nhiệm vụ

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Túi sinh học tự phân hủy sau 2 tháng

Nhóm các nhà khoa học của Trung tâm Công nghệ sinh học TPHCM đã nghiên cứu, sản xuất ra một số sản phẩm từ vật liệu cellulose sinh học, trong đó có túi sinh học với độ bền hơn túi nylon thông thường và tự phân hủy ở ngoài môi trường sau 2 tháng. Túi sinh học có thể tự phân hủy sau 2 tháng Theo TS. Phan Mỹ Hạnh, Phòng Công nghệ Vi sinh, Trung tâm Công nghệ Sinh học TPHCM, cellulose sinh học được sản xuất bởi các chủng vi sinh vật trong môi trường lý tưởng. Khi được cung cấp đường ngọt làm thức ăn, các chủng vi sinh vật này tạo ra một lớp màng cellulose xung quanh cơ thể chúng. Cellulose sau đó được tổng hợp và sử dụng cho nhiều ứng dụng khác nhau. Cellulose có các tính chất độc đáo như độ tinh khiết cao, độ bền cơ học lớn và khả năng tương hợp sinh học mạnh mẽ. Cellulose sinh học có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như công nghiệp sản xuất giấy, dệt, thực phẩm, y tế, vi sinh – sinh học,… Tại Trung tâm Công nghệ sinh học TPHCM, các nhà khoa học sau khi tạo ra được cellulose sinh học đã tiếp tục nghiên cứu để sản xuất mặt nạ, tạo xơ sợi, túi sinh học phân hủy, màng trị bỏng, màng bọc trái cây,… Túi sinh học bền hơn túi nylon thông thường và có thể phân hủy ở ngoài môi trường sau 2 tháng. Với những tính chất nói trên, túi sinh học phân hủy có thể thay thế túi nylon truyền thống để bảo vệ môi trường. TS. Hạnh cho biết, xét về tính thị trường, giá thành sản xuất túi sinh học hiện nay khó có thể cạnh tranh với nylon thông thường, bởi nếu sản xuất quy mô phòng thí nghiệm thì giá một túi sinh học khoảng 2.000 đồng, quy mô công nghiệp khoảng 1.000 đồng/túi (kích thước tương đương với loại túi nylon giá 200 đồng/túi). \”Để sản xuất túi sinh học, còn phải đầu tư nhà xưởng, máy móc thiết bị với kinh phí không dưới 10 tỷ đồng cho 1.000 m2\” – TS Hạnh nói. Tuy nhiên, theo TS Hạnh, hiện một số nước như Hàn Quốc đã đánh thuế túi nylon nên giá mỗi túi này cũng lên đến 1.500 – 2.000 đồng. Do Việt Nam chưa đánh thuế túi nylon nên TS. Hạnh cho rằng, để khuyến khích người dân sử dụng túi sinh học, trước mắt có thể sản xuất loại túi lớn, dày hơn, với giá thành khoảng 10.000 – 15.000 đồng/túi để người dùng đi chợ hằng ngày. \”Hiện Việt Nam chưa thực sự có nhà máy sản xuất cellulose sinh học mà chỉ là các cơ sở sản xuất thạch dừa thô nhỏ lẻ. Để giải quyết tận gốc bài toán giá thành, phải lập được dự án xây nhà máy, tạo ra lượng lớn cellulose giá thấp, cạnh tranh thì lúc đó mới có thể tính đến việc sản xuất đại trà túi sinh học thay thế túi nylon\” – TS. Hạnh chia sẻ. (theo KH&PT) Nguồn Báo Chính phủ điện tử CHXHCNVN

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Nhà khoa học nữ Việt Nam công bố công trình trên tạp chí khoa học uy tín nhất thế giới

TS. Nguyễn Thị Ánh Dương, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Việt Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các nhà khoa học Quốc tế vừa công bố công trình xuất sắc về nhóm tuyến trùng sống tự do trong đất trên tạp chí Nature – tạp chí khoa học uy tín nhất trên thế giới. Nhà khoa học nữ Nguyễn Thị Ánh Dương Nature là tạp chí xuất bản lần đầu tiên vào năm 1869 và được xếp hạng là tạp chí khoa học uy tín và có trích dẫn nhiều nhất thế giới. Những bài báo hoặc công trình đăng trong tạp chí này được cộng đồng các nhà khoa học đánh giá rất cao. Bài báo đăng trên tạp chí Nature là tiêu chí để đánh giá chất lượng khoa học của công trình. Chỉ có những công trình có chất lượng khoa học vượt trội mới được tạp chí chấp nhận xuất bản. Tác giả của các công trình này là những nhà khoa học xuất sắc, có đầu tư nghiên cứu bài bản, có hệ thống và đạt trình độ chuyên sâu của lĩnh vực khoa học đang nghiên cứu. Những nghiên cứu về tuyến trùng thực vật và tuyến trùng biển đã được thực hiện từ rất lâu trên thế giới. Nhưng những nghiên cứu về nhóm tuyến trùng sống tự do trong đất còn rất hạn chế. Chúng là một trong những nhóm sinh vật đa dạng và đóng vai trò quan trọng trong tất các các mắt xích của mạng lưới thức ăn, góp phần luân chuyển carbon, chất dinh dưỡng, khoáng hóa trong đất. Tiến sĩ Nguyễn Thị Ánh Dương đã triển khai nghiên cứu và thu thập số liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu về tuyến trùng sống trong đất ở Việt Nam trong hơn 10 năm, Tiến sĩ đã cộng tác với 70 nhà khoa học hàng đầu về lĩnh vực tuyến trùng học ở 57 phòng thí nghiệm trên toàn thế giới cùng nghiên cứu và xuất bản công trình này. Trong nghiên cứu này, 6.759 mẫu đất trên khắp thế giới đại diện cho 73 vùng tiểu khí hậu đã được thu thập và phân tích để xác định tính đa dạng và chức năng của nhóm sinh vật nhỏ bé. Nghiên cứu chỉ ra rằng số lượng tuyến trùng sống tự do trong đất lớn hơn rất nhiều so với những nghiên cứu trước đây. Chúng có số lượng khoảng 4.4 ± 0.64 × 1020 và tổng sinh khối khoảng 300 triệu tấn – xấp xỉ 80% trọng lượng kết hợp của 7.7 tỷ người tương đương dân số trên trái đất. Nghiên cứu cũng cung cấp những bằng chứng cho thấy phần lớn tuyến trùng tập trung tại những nơi có vĩ độ cao: 38,7% tồn tại trong các khu rừng phương bắc và lãnh nguyên trên khắp Bắc Mỹ, Scandinavia và Nga, 24,5% ở vùng ôn đới, và chỉ 20,5% ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Đây có thể coi là bộ dữ liệu khoa học đồ sộ nhất từ trước tới nay. Các loài tuyến trùng có kích thước nhỏ bé, không nhìn được bằng mắt thường nhưng vai trò của chúng lại đăc biệt quan trọng trong sự hình thành, tồn tại và phát triển của hệ sinh thái đất. Kết quả nghiên cứu về nhóm tuyến trùng sống tự do trong đất đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cở sở khoa học để phát triển thế giới bền vững. Đặc biệt những ứng dụng của nhóm sinh vật này được đưa ra để dự đoán những biến đổi khí hậu toàn cầu. Từ đó chúng ta có thể thấy chuyên ngành tuyến trùng hẹp nhưng thực sự ngành này lại đóng vai trò rất quan trọng để mở ra những hướng nghiên cứu mới và ứng dụng mới. TS Nguyễn Thị Ánh Dương cũng cho rằng, dự đoán biến đổi khí hậu đòi hỏi chúng ta phải hiểu chu trình carbon và dinh dưỡng toàn cầu. Hiện, chúng ta có một sự hiểu biết lớn về vật lý và hóa học của hành tinh, nhưng chúng ta biết rất ít về các sinh vật sinh học điều khiển các chu kỳ này. Cải thiện sự hiểu biết về các sinh vật này ở cấp độ toàn cầu là rất quan trọng nếu chúng ta muốn giải quyết các vấn đề biến đổi khí hậu. “Nghiên cứu của chúng tôi sẽ giúp các nhà khoa học đưa ra dự đoán tốt hơn về chu trình carbon bằng cách phát triển các mô hình phản ánh tác động của các sinh vật đất đặc biệt là nhóm Tuyến trùng. Nó cũng sẽ cho phép các nhà quản lý đất đai đưa ra quyết định đúng đắn trong cuộc chiến chống mất mát đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu bằng cách xác định các loại đất cần được phục hồi” – TS Nguyễn Thị Ánh Dương cho biết. Thu Cúc Nguồn Báo Chính phủ điện tử nước CHXHCNVN

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Đổi mới cơ chế, chính sách về khoa học và công nghệ: Động lực phát triển

Trong thời gian qua, cơ chế, chính sách về khoa học và công nghệ (KH&CN) đã được tập trung hoàn thiện, qua đó, tạo điều kiện thuận lợi hơn để KH&CN thực sự đồng hành và thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực, trong đó có ngành Công Thương. Theo đánh giá chung của các đơn vị thuộc ngành Công Thương, từ sau khi ban hành Luật KH&CN năm 2013 với nhiều đột phá, bước đầu mang lại niềm hy vọng, động lực cho giới trí thức, giới nghiên cứu và quản lý KH&CN của cả nước nói chung và ngành Công Thương nói riêng. Đổi mới cơ chế, chính sách tạo động lực cho các nhà khoa học yên tâm sáng tạo Cụ thể, với những chính sách như: Đẩy mạnh việc nghiên cứu ứng dụng thành tựu KH&CN tiên tiến và hiện đại, nghiên cứu làm chủ và tạo ra công nghệ mới nhằm đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh của sản phẩm; tạo điều kiện phát triển thị trường KH&CN; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp (DN) đầu tư cho hoạt động KH&CN, đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ… tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho DN tiếp cận, ứng dụng và chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, góp phần đáp ứng mục tiêu phát triển của ngành và của đơn vị. Các văn bản quy phạm pháp luật theo đó, đã định hướng, quy định cụ thể và chi tiết hơn. Việc lập kế hoạch, đề xuất các nhiệm vụ KH&CN, dự toán kinh phí, phê duyệt các nhiệm vụ, cấp phát kinh phí được kịp thời, linh động và chủ động hơn. Đồng thời, khuyến khích các DN đẩy mạnh hoạt động KH&CN, gắn nghiên cứu KH&CN với sản xuất; tạo động lực cho các nhà khoa học yên tâm làm việc, sáng tạo và cống hiến. Hơn nữa, hệ thống văn bản hướng dẫn Luật từng bước được xây dựng, ban hành đã phần nào thể hiện được tinh thần đổi mới của Luật, tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy các hoạt động KH&CN của các đơn vị thuộc Bộ Công Thương. Đặc biệt, ngay sau khi Luật KH&CN 2013 có hiệu lực thi hành, Bộ Công Thương đã khẩn trương tổ chức quán triệt các nội dung của Luật đến tất cả các tổ chức KH&CN thuộc Bộ thông qua các hội thảo và văn bản hướng dẫn. Bộ Công Thương đã ban hành Chiến lược phát triển KH&CN ngành Công Thương giai đoạn 2011-2020, trong đó nhấn mạnh: KH&CN là động lực then chốt để phát triển bền vững ngành Công Thương; các hoạt động KH&CN đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chiến lược đã đề ra 4 nhóm nhiệm vụ phát triển KH&CN của ngành Công Thương đến năm 2020: Hoàn thiện tổ chức, cơ chế quản lý và thông tin KH&CN; nâng cao năng lực nghiên cứu KH&CN; nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển bền vững các lĩnh vực của ngành Công Thương; đẩy mạnh hoạt động thông tin, thống kê KH&CN, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương tiếp tục hướng dẫn các đơn vị thuộc Bộ xây dựng Kế hoạch hành động thực hiện chiến lược gắn với chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển của đơn vị trong giai đoạn 2011-2020. Các nội dung của chiến lược đã được các đơn vị, tổ chức KH&CN trong ngành Công Thương cụ thể hóa trong các nhiệm vụ KH&CN hàng năm. Thời gian qua, Bộ Công Thương đã khẩn trương tổ chức rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để kịp thời sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách KH&CN cho phù hợp với thực tế, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực KH&CN. Quỳnh Nga Nguồn Diễn đàn Công thương

Lên đầu trang