Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ

Tin tức, sự kiện

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Nâng cao vai trò quản lý nhà nước về đổi mới sáng tạo

Để tháo gỡ các điểm yếu của hệ thống đổi mới sáng tạo (ĐMST) quốc gia tại Việt Nam, nhiều đại biểu cho rằng cần khắc phục các điểm nghẽn trong môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp; nâng cao chất lượng và sự phù hợp của hoạt động R&D và tạo ra tri thức;… Toàn cảnh Hội nghị. Thông tin trên được đưa ra tại Hội nghị chuyên đề quản lý nhà nước về ĐMST do Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức chiều ngày 19/3/2021. Bộ trưởng Bộ KH&CN Huỳnh Thành Đạt chủ trì Hội nghị. Tại Hội nghị, báo cáo tham luận của Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Thế Duy và lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ đã cho thấy bức tranh tổng quát về ĐMST, từ khái niệm, bản chất, thực trạng, thành tựu ĐMST, kinh nghiệm thúc đẩy hoạt động ĐMST của một số quốc gia, hoạt động quản lý nhà nước về ĐMST ở Việt Nam và những thay đổi về chiến lược quan trọng nhằm tháo gỡ các điểm yếu của hệ thống ĐMST quốc gia tại Việt Nam. Theo Thứ trưởng Bùi Thế Duy, gần đây Ngân hàng Thế giới đưa ra một quan sát gọi là “Nghịch lý của ĐMST”, được diễn giải là những nước đi sau có thể thừa hưởng, du nhập, bắt chước những công nghệ, những đổi mới mà các nước tiên phong đã phát triển để nhanh chóng bắt kịp các nước đi trước, nhưng trên thực tế đa số các nước đi sau lại không thực hiện được, hoặc thực hiện ở mức rất khiêm tốn những cơ hội này. Nghịch lý này được giải thích là ĐMST kể cả theo nghĩa rộng hay ĐMST theo kiểu bắt chước cũng không là “đương nhiên” mà đòi hỏi mức độ nhất định năng lực hấp thụ công nghệ, hấp thụ tri thức, năng lực quản lý và tổ chức, đòi hỏi doanh nghiệp, các tổ chức hỗ trợ ĐMST ở quốc gia đó phải tích lũy được nền tảng tri thức cần thiết cho ĐMST. Nếu năng lực quản lý sản xuất còn hạn chế, rất khó để doanh nghiệp thực hiện ĐMST quan trọng. Do vậy, tùy từng giai đoạn phát triển khác nhau các quốc gia sẽ có chính sách ĐMST phù hợp. Nhìn từ khía cạnh chính sách, hệ thống ĐMST quốc gia sẽ cung cấp đầu vào tri thức cho quá trình đổi mới (qua R&D, xây dựng năng lực); tạo cầu cho ĐMST (hình thành thị trường sản phẩm mới, tạo ra yêu cầu mới về chất lượng); hình thành các thành phần của hệ thống đổi mới (hình thành, thay đổi các tổ chức trực tiếp tham gia ĐMST; thúc đẩy học tập lẫn nhau, xây dựng mạng lưới và liên kết tri thức; tạo ra và hình thành các thể chế); hỗ trợ các công ty đang ĐMST, thông qua việc ươm tạo, cung cấp tài chính và tư vấn (ươm tạo, cung cấp tài chính, cung cấp dịch vụ tư vấn). Tại Việt Nam, hệ thống ĐMST đang hình thành, trong đó, một số thực thể, thể chế và liên kết đã xuất hiện và hoạt động nhưng còn thiếu vắng nhiều thể chế, thực thể và liên kết khác. Từ năm 2007 đến nay, mỗi năm Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), Viện Quản trị Kinh doanh Châu Âu (INSEAD), Đại học Cornell (Hoa Kỳ) đều phối hợp xây dựng và xuất bản báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII). Những năm gần đây, kết quả GII của Việt Nam liên tục tăng và Việt Nam đã sử dụng bộ chỉ số GII như một công cụ đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động ĐMST của quốc gia. Việt Nam được xem là hình mẫu của các nước đang phát triển khác trong việc thiết lập ĐMST như một ưu tiên quốc gia. Tại Hội nghị, các đại biểu dành nhiều thời gian trao đổi, bàn luận về vấn đề quản lý nhà nước về KHCN&ĐMST. Hoạt động quản lý nhà nước của Bộ KH&CN về ĐMST được tổ chức dưới hình thức các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước (từ xác định nhiệm vụ, đến tuyển chọn thực hiện, đánh giá nghiệm thu, phổ biến, chuyển giao kết quả nghiên cứu v.v..) là hoạt động xuyên suốt trong các thời kỳ. Từ đầu những năm 2000, Bộ KH&CN đã có sự chuyển hướng nhằm vào đối tượng doanh nghiệp, địa phương và thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, áp dụng những quy trình, công cụ quản lý, tiêu chuẩn mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của doanh nghiệp; hoạt động sở hữu trí tuệ cũng được đẩy mạnh hơn. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới (các luật) được xây dựng, sửa đổi, bổ sung. Các chương trình KH&CN được đề xuất và triển khai. Các đơn vị trong Bộ Khoa học và Công nghệ cũng được tái cơ cấu lại theo định hướng mới. Một số đơn vị được thành lập mới và có thêm nhiều hoạt động cùng bộ máy, cơ chế chính sách liên quan nhằm cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ tài chính và các hỗ trợ khác cho doanh nghiệp. Đây thực chất là những hoạt động có tính chất quản lý nhà nước về ĐMST. Trong bối cảnh mới, cần ưu tiên phát triển năng lực bắt kịp trình độ công nghệ cao nhất (đường biên công nghệ) thông qua tiếp nhận, phổ biến công nghệ tiên tiến từ nước ngoài hoặc các công ty đa quốc gia, thay vì cố gắng thúc ép tạo ra công nghệ mới thông

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai hiệu quả Quyết định của Thủ tướng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức

Chiều ngày 18/3/2021, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/1/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) giai đoạn 2016 – 2025. Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có đồng chí Lại Đức Vượng, Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức – Bộ Nội vụ; đồng chí Trần Văn Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ – Bộ KH&CN; các đồng chí Lãnh đạo và cán bộ phụ trách công tác đào tạo của các đơn vị thuộc Bộ. Theo báo cáo của Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ KH&CN có một đơn vị có chức năng đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC và 19 đơn vị có chức năng, nhiệm vụ liên quan đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Giai đoạn 2016 – 2020, Bộ KH&CN đã triển khai nghiêm túc, đúng quy định công tác đào tạo, bồi dưỡng theo chức năng, nhiệm vụ được giao, trong đó đã triển khai hiệu quả Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2025. Bộ đã ban hành Quy chế quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC của Bộ, trong đó cụ thể hóa các quy định của pháp luật về công tác đào tạo, bồi dưỡng gắn với đặc thù của Bộ. Trong giai đoạn 2016 – 2020, Bộ đã cử 300 công chức, viên chức tham gia các lớp bồi dưỡng cao cấp lý luận chính trị, trong đó Bộ phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức một lớp bồi dưỡng cao cấp lý luận chính trị hệ không tập trung dành cho CCVC của Bộ nhằm hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo quản lý theo quy định. Cùng với đó, Bộ đã cử 637 CCVC tham gia các lớp bồi dưỡng ngạch chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp, thanh tra viên, thanh tra viên chính, thanh tra viên cao cấp do Học viện Hành chính quốc gia và các cơ sở đào tạo tổ chức, trong đó Bộ đã tổ chức 4 lớp chuyên viên, 2 lớp chuyên viên chính. Có 159 viên chức thuộc Bộ được cử tham gia các khóa bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức ở các hạng chức danh; hơn 1.800 lượt công chức, viên chức được các đơn vị thuộc Bộ cử tham gia các khóa bồi dưỡng; có 327 công chức, viên chức được bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo quản lý, trong đó, Bộ đã tổ chức 1 lớp bồi dưỡng lãnh đạo quản lý cấp phòng và phối hợp với Học viện Hành chính quốc gia tổ chức 1 lớp bồi dưỡng lãnh đạo quản lý cấp vụ và tương đương; 1.205 CCVC được cử tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh. Bộ đã phối hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức 4 lớp bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức viên chức của Bộ;… Bên cạnh đó, Bộ đã khai thác các nguồn kinh phí khác để tổ chức các khóa bồi dưỡng ở nước ngoài cho đội ngũ CCVC để cập nhật kiến thức, kỹ năng quản lý tiên tiến, hiện đại của các nước phát triển, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý về KH&CN và thực thi nhiệm vụ được giao. Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ KH&CN đã triển khai nhiều chương trình, các khóa đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ CCVC chuyên ngành KH&CN. Từ năm 2018 đến nay, Học viện KHCN và Đổi mới sáng tạo đã chủ trì tổ chức hoặc phối hợp tổ chức 26 lớp bồi dưỡng ở các hạng chức danh cho hơn 3.500 viên chức. Đồng thời, tổ chức được 23 lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý KH&CN cho cán bộ ở bộ, ngành, địa phương cho gần 2.200 lượt người. Có thể nói, Bộ KH&CN đã đạt được các mục tiêu được giao tại Quyết định số 163/QĐ-TTg. Theo đó, gần 100% cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn quy định về kiến thức quản lý nhà nước trước khi bổ nhiệm ngạch, tiêu chuẩn bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý. Đối với bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý, 100% cán bộ, công chức đều có chứng chỉ trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ và tương đương đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn quy định về trình độ lý luận chính trị; 80% cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc đối tượng 2 được bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh. Đối với viên chức, 100% viên chức được bồi dưỡng để đáp ứng tiêu chuẩn xét thăng hạng, thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức; Các viên chức lãnh đạo, quản lý đều được bồi dưỡng nhằm đáp ứng tiêu chuẩn trước khi bổ nhiệm. Bộ KH&CN đã triển khai và hoàn thành các nhiệm vụ cụ thể của Đề án đến năm 2020 về: Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng CBCCVC trong việc đảm bảo chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng; Nâng cao trách nhiệm của bản thân CBCCVC trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ được đào tạo, bồi dưỡng; học và tự học, thực hiện học tập suốt đời; Quy định cụ thể về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng CBCCVC; việc khuyến

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 279/QĐ-TTg ngày 26/02/2021 Phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) công lập thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hình thành mạng lưới tổ chức KH&CN công lập theo hướng mở, phát huy tối đa lợi thế về KHCN&ĐMST. Việc lập quy hoạch phù hợp, thống nhất với quy hoạch tổng thể quốc gia, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021 – 2030 và các quy hoạch, chiến lược khác có liên quan trong cùng giai đoạn phát triển, đảm bảo phát huy tối đa lợi thế về KHCN và đổi mới sáng tạo (ĐMST) của đất nước; đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập, phù hợp với khả năng đầu tư của ngân sách nhà nước. Đồng thời, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập; thu hút đa dạng các nguồn lực đầu tư phát triển cho tổ chức KH&CN công lập. Đối tượng quy hoạch gồm các tổ chức KH&CN công lập do các cơ quan có thẩm quyền thành lập quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g khoản 1 Điều 12 Luật KH&CN năm 2013. Các tổ chức KH&CN công lập là cơ sở giáo dục đại học, các tổ chức KH&CN công lập thuộc bộ Quốc phòng, Bộ Công an, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thực hiện theo các văn bản khác. Mục tiêu lập quy hoạch nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về định hướng phát triển KHCN&ĐMST; kết nối các ngành, các vùng có liên quan theo quy hoạch tổng thể quốc gia; Hình thành mạng lưới tổ chức KH&CN công lập theo hướng mở, linh hoạt, có quy mô và cơ cấu hợp lý, đáp ứng mục tiêu đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đồng thời, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn trên địa bàn cả nước thuộc lĩnh vực KH&CN, bảo đảm tính khách quan, khoa học, công khai, minh bạch và hiệu quả; đồng thời là cơ sở huy động nguồn lực của cộng đồng, xã hội phát triển mạng lưới tổ chức KH&CN; hướng tới mục tiêu tự chủ hoàn toàn của các tổ chức KH&CN công lập. Nội dung lập quy hoạch thực hiện theo quy định tại Luật Quy hoạch và Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 7/5/2019 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quy hoạch, gồm các nội dung chủ yếu: Phân tích, đánh giá yếu tố, điều kiện tự nhiên, nguồn lực, bối cảnh và thực trạng phân bổ, sử dụng không gian của mạng lưới tổ chức KH&CN trên phạm vi cả nước; dự báo xu thế phát triển và xây dựng các kịch bản phát triển ảnh hưởng trực tiếp đến kết cấu mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập trong thời kỳ quy hoạch. Đánh giá về liên kết ngành, liên kết vùng trong việc phát triển mạng lưới tổ chức KH&CN công lập; xác định yêu cầu của phát triển kinh tế – xã hội đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ; những cơ hội và thách thức đối với quy hoạch mạng lưới tổ chức KH&CN công lập. Xác định các quan điểm, mục tiêu và nguyên tắc phát triển mạng lưới tổ chức KH&CN công lập trong thời kỳ quy hoạch; phương án phát triển mạng lưới tổ chức KH&CN công lập trên phạm vi cả nước và các vùng lãnh thổ; danh mục dự án quan trọng quốc gia, dự án ưu tiên đầu tư của ngành và thứ tự ưu tiên thực hiện trong hệ thống tổ chức KH&CN công lập; giải pháp, nguồn lực thực hiện quy hoạch. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm phê duyệt chi tiết nội dung, dự toán của dự án và lựa chọn đơn vị lập quy hoạch theo đúng quy định; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức liên quan triển khai thực hiện lập quy hoạch theo nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đảm bảo chất lượng, tiến độ, hiệu quả. Các bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phối hợp với Bộ KH&CN lập Quy hoạch mạng lưới tổ chức KH&CN thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo quy định, bảo đảm hiệu quả, đúng tiến độ. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký ban hành.   Liên kết nguồn tin: https://www.most.gov.vn/vn/tin-tuc/19687/nang-cao-tinh-tu-chu–tu-chiu-trach-nhiem-cua-to-chuc-khcn-cong-lap.aspx Nguồn MOST

Đào tạo bồi dưỡng, Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Đăng ký tham dự các lớp Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành KH&CN năm 2021

Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo thông báo về việc đăng ký tham dự các lớp Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành KH&CN năm 2021 như sau:   Download mẫu Danh sách đăng ký tham dự các lớp Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành KH&CN năm 2021 tại đây: Mau DS dang ky lop vien chuc (1)   Nguồn VISTI

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Đến 2030, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia lọt top 15 khu vực

Tầm nhìn đến năm 2030 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đạt xếp hạng trong 15 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ngày càng phát triển theo chiều sâu. Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 188/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025. Theo đó, bổ sung mục tiêu của Đề án: Xây dựng hệ thống Trung tâm đổi mới sáng tạo hỗ trợ nghiên cứu phát triển, khởi nghiệp sáng tạo, đảm bảo vận hành thành công các Trung tâm với các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, cạnh tranh so với khu vực và quốc tế; phát triển Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo quốc gia tại 3 thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh và các Trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại các bộ, ngành, địa phương, tổ chức có tiềm năng về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Phát triển Mạng lưới khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia khuyến khích sự tương tác, kết nối nguồn lực trong hệ thống các Trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong nước, nước ngoài; đến năm 2025 có chương trình hợp tác với đối tác quốc tế tại ít nhất 5 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có uy tín trên thế giới. Quyết định cũng sửa đổi, bổ sung quy định về các hoạt động của đề án. Cụ thể, hình thành và hỗ trợ phát triển mạng lưới khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia với các nội dung hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động như xây dựng, phát triển mạng lưới tổ chức, cá nhân khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, thu hút nguồn lực quốc tế hỗ trợ cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong nước; hợp tác với chuyên gia, tổ chức quốc tế trong đào tạo, huấn luyện, tư vấn chuyển giao công nghệ, đầu tư, phát triển thị trường; mời chuyên gia, cố vấn, người Việt Nam thành công ở nước ngoài đến làm việc, tư vấn thường xuyên, cung cấp dịch vụ cho các khu dịch vụ tập trung hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở phạm vi ngành, vùng, địa phương, cơ sở; tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học, Diễn đàn cấp cao mạng lưới khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hằng năm, ở quy mô quốc gia, quốc tế. Liên kết nguồn tin: https://www.most.gov.vn/vn/tin-tuc/19641/den-2030–he-sinh-thai-khoi-nghiep-doi-moi-sang-tao-quoc-gia-lot-top-15-khu-vuc.aspx Nguồn MOST

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế

Trong giai đoạn tới, khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã trở thành một trong những xu hướng phát triển của thời đại, Việt Nam cần phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng hiện nay sang mô hình dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH,CN&ĐMST), qua đó mới có thể nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế để phát triển đất nước nhanh, bền vững, độc lập, tự chủ, sớm đạt ngang tầm với các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới. Đó là một trong những nội dung quan trọng được nhấn mạnh trong bài tham luận của đồng chí Huỳnh Thành Đạt – Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ với chủ đề “Phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”, tại phiên thảo luận của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, sáng ngày 28/01/2021. Nhiều thành tựu ấn tượng Đồng chí Huỳnh Thành Đạt – Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ phát biểu tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.   Theo Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt, năm năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị cũng như của các cấp, các ngành và toàn xã hội, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng và toàn diện. Trong thành tựu chung này có sự đóng góp quan trọng của KHCN&ĐMST ở tất cả các ngành, lĩnh vực, các địa phương trong cả nước. Bộ trưởng cho biết, KH&CN Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ và thành tựu nổi bật, đóng góp thiết thực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, củng cố quốc phòng và an ninh quốc gia, cải thiện an sinh xã hội và chất lượng cuộc sống người dân, góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp – TFP giai đoạn 2016 – 2020 đã tăng lên 45,2% so với mức 33,58% của giai đoạn 2011 – 2015 là 33,6%; tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2016 – 2020 đã tăng lên 5,8%/năm so với giai đoạn 2011 – 2015 là 4,3%/năm; Tỉ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá tăng từ 19% năm 2010 lên khoảng 50% năm 2020. Những đóng góp về KH,CN&ĐMST trong phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận. Trong bảng xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2020, Việt Nam xếp hạng 42/131 quốc gia/nền kinh tế. Việt Nam tiếp tục giữ vị trí đầu trong nhóm 29 quốc gia có thu nhập trung bình thấp được xếp hạng GII năm 2020; trong 10 nước khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ 3, sau Singapore và Malaysia. Trong các kết quả nổi bật của các ngành, lĩnh vực, có thể thấy có sự đóng góp của ngành KH,CN&ĐMST, Bộ trưởng khẳng định. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu bấm nút khai mạc Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2020. Theo đó, khoa học chính trị và kinh tế đã và đang cung cấp các luận cứ sâu sắc và kịp thời trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống chính trị; bảo vệ nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng, khẳng định con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của đất nước; đổi mới đồng bộ thể chế kinh tế, chính trị và xã hội; có nhiều đóng góp thiết thực trong việc bảo đảm sự ổn định chính trị của đất nước trong điều kiện mới và đề xuất các chủ trương, chính sách lớn về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Khoa học xã hội và nhân văn đã phát triển hệ thống lý luận mới về vai trò của văn hóa, lịch sử, con người và các nhân tố tạo nên sự phát triển bền vững, tác động vào quá trình thay đổi nhận thức và hành vi, bồi đắp trí tuệ của con người Việt Nam trong xã hội hiện đại, bảo tồn và phát huy các giá trị tinh hoa của dân tộc, góp phần xây dựng các nền tảng của một xã hội văn minh và hội nhập với thế giới. Khoa học tự nhiên đã có tiến bộ vượt bậc về lượng và chất trong những năm gần đây. Số lượng bài báo công bố quốc tế ISI của Việt Nam tăng gần gấp ba lần so với đầu nhiệm kỳ, bình quân hằng năm tăng trên 20%. Các nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng đã tạo ra nhiều kết quả nổi bật trong lĩnh vực hóa học, cơ học, khoa học thông tin và máy tính, sinh học nông nghiệp, y sinh dược học; nhiều nhà khoa học trẻ Việt Nam đã nhận được các giải thưởng khoa học danh giá trong nước và quốc tế. Các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học trái đất và môi trường đã góp phần nâng cao năng lực dự báo, phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên có đóng góp rất quan trọng trong

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Đổi mới tư duy, cơ chế, chính sách để khoa học và công nghệ trở thành khâu đột phá đưa đất nước phát triển mạnh mẽ

Trong bối cảnh hội nhập và cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu, khoa học và công nghệ (KH và CN) trở thành yếu tố đầu vào quan trọng nhất của lực lượng sản xuất hiện đại có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng và tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, xem trọng vai trò của KH và CN cùng với giáo dục và đào tạo, KH và CN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển KH và CN và đổi mới sáng tạo là một trong các đột phá chiến lược được nhấn mạnh tại các dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XIII. Trong những năm qua, KH và CN Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ và thành tựu nổi bật, đóng góp thiết thực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, củng cố quốc phòng và an ninh, cải thiện an sinh xã hội và chất lượng cuộc sống người dân, góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Đẩy mạnh phát triển tiềm lực và trình độ  Công tác quản lý nhà nước về KH và CN từng bước được đổi mới, hành lang pháp lý trong lĩnh vực KH và CN được tạo lập toàn diện và đồng bộ hơn, tạo môi trường thuận lợi và cạnh tranh lành mạnh trong nghiên cứu sáng tạo. Đổi mới sáng tạo dần trở thành tư duy mới trong quản lý, điều hành; nhận thức rõ hơn về vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong hệ thống sáng tạo quốc gia; từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu; áp dụng nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng trong tuyển chọn nhiệm vụ KH và CN; thực hiện cơ chế khoán chi và kiểm soát chi thông thoáng; gắn nhiệm vụ nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn và thị trường; trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH và CN công lập; phát triển thị trường công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; hình thành doanh nghiệp KH và CN, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; khuyến khích doanh nghiệp thành lập viện nghiên cứu và đầu tư mạnh cho KH và CN; thí điểm mô hình thu hút, trọng dụng cán bộ khoa học tài năng trong nước và trí thức kiều bào.  KHCN không chỉ là nền tảng, mà còn là kết quả, minh chứng hiện thân của một đất nước phát triển, của một đất nước công nghệ hiện đại . Ảnh minh họa.   Những đổi mới mạnh mẽ về cơ chế, chính sách đã góp phần nâng cao tiềm lực và trình độ KH và CN của đất nước. Đến nay, cả nước có 687 tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, 236 trường đại học, ba khu công nghệ cao quốc gia, 13 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tám khu công nghệ thông tin tập trung và gần 67 nghìn cán bộ nghiên cứu. Đã hình thành các viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp theo mô hình tiên tiến thế giới ở khu vực công lập và tư nhân. Nguồn lực tài chính cho KH và CN từ ngân sách nhà nước được duy trì mức 2% tổng chi hằng năm; đầu tư từ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp quy mô lớn ngày càng tăng mạnh (chiếm 48% tổng chi xã hội cho KH và CN). Hạ tầng nghiên cứu một số lĩnh vực trọng điểm như công nghệ sinh học, hóa dầu, vật liệu, năng lượng, tự động hóa, na-nô, công nghệ tính toán, y học được đầu tư tăng cường. Nguồn lực thông tin, nền tảng Tri thức Việt số hóa được đầu tư, kết nối và chia sẻ mở trong cộng đồng. Thị trường công nghệ, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo phát triển sôi động, hệ thống sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng ngày càng hoàn thiện, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, khuyến khích sự ra đời của hàng nghìn doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm năng tăng trưởng. Số lượng bài báo, công trình khoa học công bố quốc tế và sáng chế của người Việt Nam tăng hằng năm; tốc độ đổi mới công nghệ, năng lực công nghệ của quốc gia và doanh nghiệp được tăng cường; khoảng cách giữa Việt Nam và các nước trong khu vực được rút ngắn đáng kể trong xếp hạng năng lực cạnh tranh, năng lực đổi mới sáng tạo toàn cầu và ở một số lĩnh vực khoa học có thế mạnh. Năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tục tăng, năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng thêm ba bậc, năm 2019 và 2020 đạt thứ hạng tốt nhất từ trước tới nay, xếp thứ 42 trên 131 quốc gia, dẫn đầu nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp. KH và CN thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững Với các tiến bộ trong cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho tiềm lực và trình độ KH và CN, lực lượng KH và CN thật sự đồng hành cùng các cấp, các ngành và địa phương để bám sát thực tiễn, đóng góp ngày càng thiết thực hơn cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Khoa học xã hội và nhân văn đã phát triển hệ thống lý luận mới về vai trò của văn hóa, lịch sử, con người và các nhân tố tạo nên sự phát triển

Tin tức, sự kiện, Tin tức, sự kiện - Tin tức

Sổ tay hướng dẫn Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index) năm 2020

Để thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh, ngày 06/02/2017, Chính phủ ban hành Nghị quyết 19-2017/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Ngoài các chỉ số quốc tế về môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh, Chính phủ đã bổ sung chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index, viết tắt là GII) và phân công từng Bộ, cơ quan, địa phương chủ trì, tham gia cải thiện các chỉ số liên quan. Theo phân công của Chính phủ, các bộ, cơ quan, địa phương có trách nhiệm “tìm hiểu phương pháp, cách tính toán và ý nghĩa các chỉ số xếp hạng, đồng thời cung cấp thông tin kịp thời để các tổ chức quốc tế có căn cứ xác thực trong đánh giá, xếp hạng”; Bộ Khoa học và Công nghệ được Chính phủ phân công làm đầu mối theo dõi việc cải thiện chỉ số GII nói chung. Năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị quyết 19-2018/NQ-CP, yêu cầu tiếp tục bám sát các chỉ tiêu quốc tế và “kiên định các mục tiêu đã đề ra” trong Nghị quyết 19 năm 2016 và năm 2017. Năm 2019 và năm 2020, ngay sau khi ban hành Nghị quyết 01/NQ-CP, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP về việc tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Chính phủ tiếp tục sử dụng các chỉ số quốc tế, bao gồm chỉ số GII. So với năm 2019, chỉ số GII 2020 có điều chỉnh về phương pháp đối với một số chỉ số (thay đổi chỉ số, thay đổi nguồn dữ liệu, thay đổi phương pháp tính toán chỉ số). Nhằm cung cấp thông tin, hỗ trợ các Bộ, cơ quan, địa phương thực hiện nhiệm vụ cải thiện chỉ số ĐMST theo phân công của Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã giao Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cập nhật thông tin, biên soạn tài liệu Sổ tay hướng dẫn Chỉ số ĐMST toàn cầu (Global Innovation Index) năm 2020 để các cơ quan, đơn vị tham khảo, sử dụng. Dowload \”Sổ tay hướng dẫn Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index) năm 2020\”: http://visti.gov.vn/wp-content/uploads/2021/01/So-tay-huong-dan_GII_2020_website.pdf Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các cơ quan, tổ chức, các chuyên gia, nhà khoa học để tiếp tục hoàn thiện tài liệu này trong thời gian tới. Mọi thông tin, góp ý xin gửi về: Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Địa chỉ: 38 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội; Điện thoại: 024.38.265.454/0912.772.494 Email: visti@most.gov.vn Xin trân trọng cảm ơn.

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Khối thi đua Văn phòng – Viện tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác thi đua, khen thưởng năm 2020

Chiều ngày 31/12/2020 tại Trụ sở Bộ Khoa học và Công nghệ, Khối thi đua Văn phòng – Viện đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác thi đua, khen thưởng năm 2020. Toàn cảnh Hội nghị. Tham dự Hội nghị có đồng chí Phạm Công Tạc – Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, đồng chí Lê Ngân Giang – Phó Vụ trưởng Vụ Thi đua – Khen thưởng, đồng chí Hoàng Minh – Giám đốc Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (Trưởng Khối thi đua năm 2020), đồng chí Nguyễn Thế Ích – Chánh Văn phòng Nông thôn miền núi (Phó Trưởng Khối thi đua năm 2020), cùng đại diện lãnh đạo và cán bộ phụ trách công tác thi đua, khen thưởng của các đơn vị thành viên thuộc Khối thi đua Văn phòng – Viện. Khối thi đua Văn phòng – Viện gồm 14 đơn vị có đặc thù riêng do chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức, hoạt động của các đơn vị trong Khối có sự khác nhau và thống nhất chia thành 02 Cụm đơn vị với Cụm các Văn phòng (có 6 đơn vị) và Cụm các Viện – Học viện – Trung tâm (có 8 đơn vị) với những tiêu chí thi đua chung, tiêu chí thi đua riêng phù hợp với đặc thù của Khối. Trong năm 2020, các đơn vị thành viên trong Khối đã bám sát các mục tiêu, kế hoạch được ký kết trong Giao ước thi đua như tích cực hưởng ứng phong trào thi đua gắn với \”Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh\”, phát động và tham gia đầy đủ các phong trào thi đua theo chỉ đạo định hướng của Hội đồng thi đua, khen thưởng Bộ Khoa học và Công nghệ với phong trào “Đổi mới, sáng tạo đưa nhanh khoa học và công nghệ vào cuộc sống” giai đoạn 2018-2020, phong trào “Đưa khoa học và công nghệ về nông thôn”. Phong trào thi đua của Khối trong năm 2020 với chủ đề “Đoàn kết, kỷ cương, sáng tạo” và các phong trào thi đua khác đã được các đơn vị thành viên trong khối hưởng ứng và phát động như phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Khoa học và công nghệ đồng hành cùng doanh nghiệp”, “Nâng cao hơn nữa chất lượng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ”, “Startup” dựa trên các kết quả nghiên cứu và chuyển giao KH&CN tiến tới thành lập doanh nghiệp KH&CN, “Cán bộ, viên chức, người lao động thi đua thực hiện văn hóa công sở”, “Đổi mới phương thức hoạt động nhằm khắc phục khó khăn vì đại dịch Covid”, “Thực hành tiết kiệm và chống lãng phí”, chương trình “Chung tay xây dựng cầu dân sinh tại địa bàn khó khăn”, … Trước đó, tại Hội nghị Điển hình tiên tiến giai đoạn 2015-2019 được tổ chức vào tháng 6/2020, Khối thi đua đã thống nhất phát động phong trào thi đua của Khối giai đoạn 2020 – 2025 với chủ đề: “Đoàn kết, kỷ cương, sáng tạo, phát triển” nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và mỗi đơn vị thành viên phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Lãnh đạo Bộ giao, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho ngành KH&CN;… Nhìn chung, các đơn vị đã thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, kế hoạch công tác năm 2020, trong đó có các hoạt động chuyên môn, hoạt động phối hợp, công tác Đảng, đoàn thể, công tác tổ chức, cán bộ được quan tâm thực hiện hiệu quả. Công tác thi đua khen thưởng được đẩy mạnh, đem lại hiệu quả thiết thực, thúc đẩy sự phát triển phong trào thi đua của từng đơn vị và trong toàn Khối. Khối trưởng và Khối phó trong năm 2020 đã phát huy tốt vai trò của mình và nhận được sự phối hợp, ủng hộ nhiệt tình từ các đơn vị thành viên trong Khối. Những kết quả đó đã tạo nên một bức tranh tổng thể về phong trào thi đua của Khối, góp phần làm sinh động thêm kết quả tốt đẹp về công tác thi đua khen thưởng của Bộ KH&CN. Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Phạm Công Tạc đánh giá cao các kết quả đạt được của Khối thi đua Văn phòng – Viện trong năm 2020. Đây là một Khối lớn với số lượng cán bộ nhiều, trong đó có các cán bộ trẻ được đào tạo bài bản. Thứ trưởng đề nghị lãnh đạo các đơn vị thường xuyên động viên, khen thưởng kịp thời đối với các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác. Đồng thời, thông qua việc phát động và hưởng ứng các phong trào thi đua, các đơn vị thành viên tiếp tục tăng cường gắn kết hơn nữa để nhân rộng và lan tỏa những nhân tố mới, mô hình mới góp phần hoàn thành công việc đảm bảo chất lượng, tiến độ được giao. Trong năm 2021, ngoài việc tiếp tục hưởng ứng phong trào thi đua của Bộ với chủ đề “Đổi mới sáng tạo đưa nhanh khoa học và công nghệ vào cuộc sống”, Khối tiếp tục phát động phong trào thi đua với chủ đề “Đoàn kết, kỷ cương, sáng tạo, phát triển” và triển khai phong trào thi đua tại từng đơn vị thành viên trong Khối. Tùy thuộc tình hình thực tiễn, mỗi đơn vị thành viên sẽ phát động phong trào thi đua riêng trong từng đơn vị. Thông qua các phong trào thi đua kịp thời biểu dương, ghi nhận thành tích các tập thể, cá nhân điển hình, tiên tiến trong các lĩnh vực của Bộ; chú trọng xây

Tin tức, sự kiện - Tin tức

Khoa học và công nghệ – động lực phát triển kinh tế -xã hội

Bài 1: Thực hiện nhất quán khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu (ĐCSVN) – Trong văn kiện Đại hội XII, Đảng ta đã đưa khoa học và công nghệ (KH&CN) lên tầm mức mới với khẳng định “Khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu”, “Khoa học và công nghệ là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại”. Những quan điểm này tiếp tục được tái khẳng định trong dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu bấm nút khai mạc Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2020. Khẳng định vai trò, vị trí của KH&CN Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, nguồn nhân lực chất lượng cao, KH&CN và đổi mới sáng tạo (ĐMST) trở thành yếu tố đầu vào quan trọng nhất của lực lượng sản xuất hiện đại, là chìa khóa quyết định tốc độ, chất lượng phát triển của các quốc gia và nền kinh tế. Tại Việt Nam, vai trò của KH&CN trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng. Nghị quyết Trung ương 6, khóa XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW), Kết luận số 50-KL/TW của Ban Bí thư năm 2019 và nhiều văn kiện, nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương khóa XII đã tái khẳng định KH&CN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển nguồn nhân lực, KHCN&ĐMST là một trong các đột phá chiến lược được nhấn mạnh tại các dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng khóa XIII. Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 năm 2020, chuẩn bị tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ Tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong bài viết \”Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Ðại hội XIII của Ðảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới\” đã nhấn mạnh quan điểm: \”Thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế\”. Văn kiện Đại hội XII đặt ra nhiệm vụ “Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”. Năm năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng là thực tiễn nóng hổi rất sinh động, phong phú để chúng ta tiếp tục khẳng định, bổ sung và làm sâu sắc thêm những bài học kinh nghiệm đã được đúc rút từ những nhiệm kỳ trước. Dự thảo Văn kiện trình Ðại hội XIII của Ðảng chứa đựng nhiều điểm mới rất phong phú, toàn diện và sâu sắc, trong đó, các quan điểm phát triển KH&CN tiếp tục được nhấn mạnh, cụ thể “Tiếp tục quán triệt, thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Có chiến lược phát triển KH&CN phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Thực tiễn cho thấy, KH&CN đang từng bước khẳng định vai trò động lực trong phát triển kinh tế – xã hội. Tiềm lực KH&CN của đất nước được tăng cường. Khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ đã đóng góp tích cực hơn trong nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị góp phần tích cực cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách; bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, con người Việt Nam. Hiệu quả hoạt động KH&CN được nâng lên, tạo chuyển biến tích cực cho hoạt động đổi mới và khởi nghiệp sáng tạo… Nhiều thành tựu đột phá Có thể khẳng định, KH&CN đã đóng góp đáng kể cho tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần chuyển dịch mô hình tăng trưởng và thăng tiến cao hơn về chuỗi giá trị. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam gần đây đang giảm dần phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu thô và mở rộng tín dụng. Bằng chứng là tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2011-2015 là 4,3%/năm và tăng lên 5,8% giai đoạn 2016-2018. KH&CN đã đóng góp trên 30% tổng giá trị gia tăng trong nông nghiệp. Với lĩnh vực công nghiệp, giá trị sản phẩm công nghệ cao, ứng dụng công nghệ tăng từ 26% năm 2010 lên trên 40% năm 2019. 3 khu công nghệ cao là

Lên đầu trang